Hiển thị các bài đăng có nhãn Kết nối dòng họ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kết nối dòng họ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

Làng Phù Ủng - quê hương danh tướng Phạm Ngũ Lão

LƯỢC KHẢO VỀ HỌ VŨ CỦA LÀNG PHÙ ỦNG, HUYỆN ĐƯỜNG HÀO, TỈNH HẢI DƯƠNG
(Quê hương với danh tướng Phạm Ngũ Lão).

A. LỜI MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU LÀNG PHÙ ỦNG

Tên làng cổ này thoạt nghe lạ tai và khó hiểu ý nghĩa tên Làng này có nghĩa gì? Vì trong 50, 60 năm qua, Hán học suy tàn trong dân chúng cả nước ta, nhất là từ 1945 đến nay. Đại đa số người Việt sau năm 1954 chỉ biết chữ Quốc Ngữ theo mẫu tự A, B, C… Đến năm 2000, cả nước ta, chỉ còn không quá 500 người trong 80 triệu dân, biết đọc, biết viết chữ Hán Nôm! Đa số quá bán, lại là các cụ sư tăng cao tuổi. Trong xã hội bên ngoài chùa chiền, còn khoảng hơn 200 người biết chữ Hán Nôm và chỉ có 80 người thuộc loại giỏi, khá, có thể dịch thông thạo văn bản cổ thư xưa (có 50 người là chuyên viên Hán Nôm tốt nghiệp ở Đại Học Hà Nội, Huế, Sài Gòn trước 1975 đều lớn tuổi hơn 50, 60 vào những năm thập niên 90 của thế kỷ XX). Còn 120 người biết Hoa Văn phổ thông (Trung văn hiện đại) và các cụ già ở nông thôn Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Huế, Hà Tĩnh, Quảng Nam… và các tỉnh Bắc Bộ đọc, viết, hiểu nghĩa có hạn chế về Hán Nôm cổ. Riêng các cao tăng, phần lớn giỏi về Kinh Phật hơn văn học, sử học.

Vì lẽ đó, ngày nay, học sinh, sinh viên, công nhân, thương nhân và nông dân, cũng như đa số người dân Việt bình thường đều “mù chữ Hán Nôm” do cổ tự (chữ cổ) đó đã thành “tử ngữ”: (tiếng chết, chữ chết rồi) ít dùng ngoài đời sống hàng ngày trong xã hội hiện nay. Trừ Viện Hán Nôm, Viện Sử Học, Trường Đại Học, Thư Viện, lớp Đông Y và các chùa lớn ở Thừa Thiên Huế… Nên khi đọc chữ Hán cổ bằng quốc ngữ La Tinh, phần đông chẳng hiểu nghĩa ngữ gì cả!

Nên chữ PHÙ ỦNG đã có người đã “cả gan” cắt nghĩa: Phù là sưng to lên = phù nề, còn ủng là bị ngâm vào nước lâu ngày thành …hư thối.Thật hài hước. Thật ra: PHÙ [ 扶] là giúp đỡ, nâng lên, ỦNG[擁] là ôm lấy, bao bọc như ủng hộ, còn nghĩa là hùa theo, cùng ý kiến và hành động. Từ ngữ tên xã: PHÙ ỦNG có nghĩa là: tuân theo và giúp đỡ (Nhà Vua hay triều đình hoặc 1 thủ lĩnh nào đó). Một địa danh rất có ý nghĩa thời xưa.

Theo các tư liệu địa chí xưa, làng Phù Ủng đã được thành lập từ đời Nhà Lý (1010 – 1225)? Nhưng cố giáo sư Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, người có gốc ở làng Phù Ủng, đã thuật lại lời truyền thuyết của các Nho gia ở quê Ông rằng: “tên hương Phù Ủng đã có từ thời Ngô Quyền (939 – 944) và thời Loạn 12 Sứ quân (945 – 967). Bấy giờ ông Ngô Quyền đem binh từ Thanh Hóa ra Cổ Loa giết tên phản quốc Kiểu Công Tiện và đánh đuổi bọn quan quân Nam Hán năm 938 và phá tan đoàn chiến thuyền của tướng giặc Hoằng Tháo xâm lược bằng trận hải chiến ở Bạch Đằng Giang lẫy lừng thắng lợi. Trên đường đi ra đánh giặc ở cửa sông Bạch Đằng, ông Ngô Quyền có đi qua vùng Đường Hào, mộ thêm quân. Ông được trai tráng vùng Chiêu Lai, Phù Vệ (là 2 tổng về sau) đã tuân lệnh, bảo nhau phù trợ (phò tá, giúp sức) theo đại quân của danh tướng họ Ngô đi diệt thù thành công. Sau Ngô Quyền lên ngôi năm 939, thưởng công cho cư dân ở 2 trang vùng quê Đường Hào có dân binh giúp ông đi đánh giặc, mang tên là Chiêu Lai (chiêu mộ quân theo đến) và Phù Vệ (giúp sức bảo vệ đất nước). Đến triều Lý, Trần, đã trở thành 2 đại trang ấp rộng lớn. Vào thời loạn 12 Sứ Quân, ở đây đã có nhiều nghĩa sĩ chống lại Dương Tam Kha, cậu ruột vua Ngô Xương Ngập (con Vua Ngô Quyền), đoạt ngôi báu và xưng là Dương Bình Vương 945 – 950). Cùng lúc, các anh hùng, võ tướng khác cũng nổi lên “xưng hùng xưng bá” là Minh Công, chia đất, đặt căn cứ chống Bình Vương, thành đại loạn 12 Sứ Quân. Sau đó, chính họ lại đánh lẫn nhau. Ở vùng Đường Hào, Tế Giang thuở đó, có Sứ Quân Lã Đường, xưng là Lữ Tá công chiếm đóng, ủng hộ Hậu Ngô Vương, là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn chống Dương Bình Vương. Khi Nam Tấn Vương thành công, lên ngôi (950 – 965) đã thưởng công cho dân quân ở Chiêu Lai, Phù Vệ. Họ Lữ cho lập một ấp mới, đặt tên là ấp PHÙ ỦNG. Đến Nhà Lý thế kỷ 12, mới đổi thàmh “xã PHÙ ỦNG”. Những năm 1285 –1288, khi Hưng Đạo Vương làm Tiết Chế đánh quân Nguyên Mông, Phạm Ngũ Lão đã theo Vương từ làng này đi đánh giặc. Vua Trần phong cho ông làm chức Điện Soái. là danh tướng Nhà Trần, ông còn đánh Ai Lao, phá Chiêm Thành, phò tá ba triều Vua: Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông. Phạm Ngũ Lão là con rể của Hưng Đạo Vương và có con gái gả cho Vua Minh Tông làm thứ phi. Ông sinh năm 1255 và mất năm 1320 thọ 66 tuổi. Tương truyền, họ Phạm ở làng Phù Ủng đã có từ thời Nhà Lý (thế kỷ 12) vào đời Trần có dòng họ Nguyễn. Thời Lê sơ (1428 – 1527) có mấy chi họ Vũ từ huyện Đường An, xã Mộ Trạch, Thì Cử (cùng gốc Tổ Vũ Hồn, nhưng ngành, nhánh khác nhau) cùng đến lập Họ ở làng Phù Ủng khoảng cuối thời Vua Lê Thánh Tông từ 1490 trở đi? Khi Lê – Trịnh đánh Nhà Mạc, từ 1545 – 1592, dân chúng Hải Dương khốn khổ vì chiến tranh đã lại bỏ làng di tản tới các nơi khác. Họ Phạm hậu duệ Phạm Ngũ Lão, di cư xuống Sơn Nam (làng Tử Dương tức Làng Tía, phủ Phường Tín), Thanh Hóa. Rồi theo đà Nam tiến, đã đi tiếp vào Quảng Nam từ thời Lê Thánh Tông và từ cuối thời Trần Hồ (Phạm Nhữ Dực, Phạm Đức Đề, Phạm Nhữ Tăng… lập nghiệp ở xứ Quảng từ 1392 – 1471). Có 1 dòng họ Phạm (Ngũ Lão) từ làng Phù Ủng đi về Sơn Nam Hạ (Nam Định) từ thời Mạc tàn, Lê trung hưng (1593 – 1600). Nên ở thành phố Nam Định có “Phù ủng vọng từ” thờ “Thánh Ủng” từ lâu đời. Làng Phù Ủng còn có một dòng họ Phan lớn, có vài Tiến Sĩ, Cử Nhân triều Nguyễn. Đến cuối thế kỷ 20, làng này có 5, 6 dòng họ: Phạm, Vũ, Phan, Trần, Nguyễn sống quây quần bên nhau. Nhưng riêng họ Vũ, một số gia đình đã di cư ra Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng. Tại Hà Nội, từ thời Hậu Lê, Tây Sơn (1735 – 1802), bà con họ Vũ, họ Phạm gốc làng Phù Ủng cùng đã sống bằng nghề in sách chữ Nho và bán giấy, sách cho sĩ tử, Nho gia ở Thăng Long Hà Nội đến đầu thế thế kỷ 20. Khi Tây cấm học và thi Hương ở Bắc Kỳ từ năm 1915 (Ất Mão). Từ đó, Nho học suy tàn và nghề in sách, bán sách cũng tàn theo từ năm 1920. Có lẽ vì vậy, mà ngay từ thời đó, người làng Phù Ủng đã dựng ngôi đền thờ danh tướng Thành Hoàng: Phạm Ngũ Lão. Ngày nay, ngôi đền ở dãy số lẻ, đầu phố Lý Quốc Sư, gần phố Hàng Gai, Hàng Bông. Trước đền có hàng chữ Hán đắp nổi là: “PHÙ ỦNG VỌNG TỪ” (Đền thờ vọng Đức Thánh Phù Ủng), đã có trên dưới 200 năm nay. Đó chính là chứng tích cổ văn hóa tín ngưỡng của dân làng Phù Ủng.

Tôi có quen gia đình con cháu 1 cụ họ Vũ gốc Phù Ủng đã có nhiều đời ở Hà Nội làm nghề in và bán sách, giấy, bút, mực. Đến khoảng năm 1920 mới chuyển ra buôn bán nghề khác phố Hàng Gai. Một số nhà họ Phạm họ Vũ gốc làng Phù Ủng, thời Nguyễn 1802 – 1884, các cửa hiệu bán sách ở phố Hàng Giấy gần chợ Đồng Xuân, “biến tướng” thành “Nhà Tơ”, tức là “phố Hát Cô Đầu”, dành cho các “quan viên” mê hát Cô Đầu (Rượu) sa đọa, hơn là thưởng thức nghệ thuật ca trù - Ả đào truyền thống. Theo dòng họ Vũ ở Hàng Gai, Hàng Trống, Hàng Bông… gốc làng Phù Ủng, trước 1954, có kể cho Cha tôi (sinh 1899) nghe rằng: “họ Vũ làng Phù Ủng thời xưa là 1 dòng họ lớn có từ thời Mạc (khoảng 1560 ?)? Đến thời Hậu Lê, “họ Vũ Phù Ủng” đã có Nho học cao. Ban đầu có một số vị họ Vũ đỗ Hương Cống cùng các ông Hương tiến họ Phạm trong làng. Đến năm 1640, đời Vua Lê Thần Tông có ông họ Vũ trẻ tuổi Vũ Vinh Tiến (học trò giỏi của Ông Hương Cống tôn sư Vũ Văn Hoành là cha của 2 Tiến Sĩ Công Đạo, Công Lượng quê ở làng Mộ Trạch) đỗ Tiến Sĩ, mở đầu cho bảng vàng đại khoa cho làng Phù Ủng thời Hậu Lê. Vì trước đó, từ thời Lý, Trần, ngoài danh tướng Điện Soái Phạm Ngũ Lão là có tài võ, làng Phù Ủng chưa hề có đại khoa.


B. KHOA BẢNG LÀNG PHÙ ỦNG, huyện Đường Hào (Mỹ Hào – Mỹ Văn) thời Nho học xưa:

- Như đã nói ở trên, họ Vũ ở làng Phù Ủng chỉ bắt đầu có từ thời Nhà Lê Sơ (1428 – 1527), hoặc đầu nhà Mạc. Thủy Tổ là các cụ họ Vũ ở 1 số làng cổ thuộc huyện Đường An, di cư đến sống ở Phù Ủng. Theo các cụ họ Vũ, mà Nhóm chúng tôi gặp trong chuyến du khảo tháng 5/2006 cho biết: “hiện nay ở thôn Phù Ủng có đến 5 dòng họ Vũ khác nhau: Vũ Văn, Vũ Đình, Vũ Huy, Vũ Đức, Vũ Khắc?” Nhưng thực chất các cụ, các ông họ Vũ ở Phù Ủng đã tiếp chúng tôi, nói về các họ Vũ làng này rất lơ mơ. Thậm chí không biết các cụ tổ nhà các ông là những ai? Tên gì? Trong làng có 1 khu lăng mộ cổ bằng đá cẩm thạch và đá xanh to đẹp ở cánh đồng sau làng rất đẹp và qui mô. Ít thấy ở đồng bằng Bắc Bộ và cả ở Thanh, Nghệ, Tĩnh có khu lăng mộ cổ còn nguyên vẹn và quy mô như thế. HÌnh như chỉ còn thấy ở làng Phù Ủng. Vậy mà, có 1 ông viên chức ở làng họ Vũ lại bảo với chúng tôi: “đó là lăng của Tiến Sĩ Vũ Công Lượng”! Tôi ngạc nhiên và nghi vấn, vì ông Nghè Công Lượng là người Mộ Trạch đời Hậu Lê, thế kỷ 17, sao chôn ở Phù Ủng? Nhóm chúng tôi đi khảo sát khu lăng mộ đá và rất ngạc nhiên về những bia đá khắc chữ đẹp, sắc nét và khắc sâu nên không bị mưa, nắng, gió bào mòn. Tôi đọc các dòng chữ Hán thì ra lăng mộ của Tiến Sĩ Vũ Vinh Tiến (đỗ khoa Canh Thìn 1640) sinh năm Canh Thân (1620), được truy tặng chức Binh Bộ Hữu Thị Lang, tước Bá. Ông thuộc dòng họ Vũ làng Phù Ủng có tiên tổ đến lập nghiệp đông từ cuối thời Lê, đầu triều Mạc (khoảng đầu thế kỷ 16, 1505 – 1527). Ông đỗ Tiến Sĩ lúc có 21 tuổi. Ngoài ra, trong quần thể lăng mộ này còn có bia đá ghi rõ 7, 8 đời họ Vũ của Ngài và con cháu. Trong đó có 1 số vị đỗ Hương Cống, Hội thí Nhị, Tam trường. Chỉ duy nhất thời Hậu Lê, có 1 Tiến sĩ là ông Vũ Vinh Tiến.

Mộ của danh nhân khoa bảng họ Vũ Phù Ủng hiển hách như thế mà trong làng không ai biết! Có lẽ đa phần các vị họ Vũ còn trong làng tuy lớn tuổi, nhưng toàn là lão nông, thợ thuyến học vấn có hạn chế. Hơn nữa con cháu cụ Vũ Vinh Tiến không còn ai trong làng.

Theo các sách Đăng Khoa và gia phả thì Vũ Vinh Tiến sinh năm Canh Thân (1620) trong gia đình Nho Học. Thuở nhỏ lanh lợi, tài giỏi văn học. Ông đi bộ hàng ngày qua làng Mộ Trạch, cách 2 km, để theo học Thầy giáo Vũ Văn Hoành (1606 – 1650) nổi danh hay chữ lúc đó. Trò Vinh Tiến kém thầy 14 tuổi. Nhưng thầy rất yêu mến và tin cậy, vì trò Vinh Tiến thông minh, hợp ý thầy. Tuy ông Vũ Văn Hoành giỏi, mà tính nết nhút nhát, thần kinh yếu. Hễ cứ nghe tiếng trống thi đã khiếp sợ rồi hoảng loạn không làm được văn bài. Ông Hoành đã đi thi nhiều lần đều hỏng. Nên năm Kỷ Mùi (1619) ông và học trò Vũ Vinh Tiến cùng đem lều chõng thi ở trường thi Hải Dương (Mao Điền). Ông Vinh biết Thầy học mình hay mất tinh thần, nên xin với Quan chủ khảo cho vào phía trước Viện thu quyển ở trường thi, ngồi làm bài, xong sớm nộp trước (vì tự tin thầy trò đều giỏi). Quả nhiên khoa đó, Thầy Văn Hoành thấy có trò dựng lều chõng gần bên, khích lệ tinh thần Thầy. Nên ông đỗ Giải Nguyên (thủ khoa) còn trò Vinh Tiến (19 tuổi) đỗ hạng nhì áp sát thầy chỉ 1 bậc. Năm sau, khoa Canh Thìn (1640) đời Vua Thần Tông và Chúa Trịnh Tráng, thầy trò thi Hội Đình, thì chỉ có trò Vũ Vinh Tiến đăng khoa Tam giáp Tiến Sĩ. Khi rước vinh quy bái tổ về làng Phù Ủng, ông Vinh Tiến xếp thầy Hoành ngồi cáng đi trước cha mẹ ông để tỏ lòng biết ơn sư phụ. Sau Thầy Văn Hoành có 2 con trai ngang tuổi ông Vinh Tiến, đều đỗ Tiến Sĩ muộn hơn (1656, 1659) là Vũ Công Lượng và Công Đạo. Ông Hoành dạy học có tiếng giỏi, học trò sau có nhiều người đỗ Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa và Tiến Sĩ gần 1 chục ông.

Vũ Vinh Tiến ra làm quan đến chức Tự Khanh. Nhưng ông còn có tài quân sự, từng tham dự nhiều chiến trận có công lao. Được phong tước Tử. Cuối thế kỷ 17, ông bị bệnh mất được Thăng Binh Bộ Hữu Thị Lang (như Thứ trưởng Quốc Phòng nay) và được tước Bá.

Ngoài vị tiến sĩ kể trên, theo Đăng Khoa Lục và 1 tập gia phả chữ Hán của 1 gia tộc Vũ xưa in sách ở phố Hàng Gai, trong làng còn vài ông Hương Cống họ Vũ làng Phù Ủng dưới triều Lê (chưa kịp tra cứu). Riêng các khoa thi triều Nguyễn (1807 – 1915), chúng tôi chỉ thấy có 2 ông Cử Nhân họ Vũ có tên sau đây:

1/ ông Vũ Huy Thịnh: quê ở Phù Ủng, đỗ Cử Nhân thứ 2/24 ở trường thi Nam Định khoa Mậu Dần (1878), tức Á Nguyên. Chưa rõ làm quan chức gì?

2/ Ông Vũ Đức Cẩn: là 1 điều lạ đặc biệt cùng họ Vũ, cùng làng đỗ cùng 1 khoa (1878), đứng hạng 3/24 ngay sát dưới ông Cử Thịnh. Sách cổ cũng không cho biết ông Cử Cẩn làm quan đến chức nào?

Ngoài ra, dưới triều Nguyễn, các họ PHAN, họ TRẦN, họ NGUYỄN và họ PHẠM cũng có một số vị đỗ Tiến Sĩ, Cử Nhân. Đó là:

1/ Tiến sĩ Phan Trứ: (sinh năm Giáp Dần 1794). Ông quê quán ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào. Khoa thi Hương năm Tân Mão (1831) đỗ Cử Nhân thứ 5/31 ở trường thi Nam Định. Nổi tiếng hay chữ, có tài văn chương. Năm sau, 39 tuổi, khoa thi Hội Đình ở Huế, ông vào ứng thí, đỗ đầu. Đình Nguyên Nhị Giáp Tiến Sĩ năm Nhâm Thìn 1832. Từng làm quan nhiều cấp, sau đến chức Tuần phủ Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa (kiêm 3 tỉnh nhỏ lúc đó). Ông từng làm Chánh Chủ khảo ở các trường thi Hương trong nước. Không rõ tuổi thọ. Em ông đỗ Cử Nhân.

2/ Cử nhân Phan Khắc Nhân (sau đổi là Khắc Hiệu).

- Là em ruột ông Nghè Trứ, đỗ cử nhân sau anh 1 khoa, vào năm Giáp Ngọ (1834). Thứ 5/9 người ở trường thi Nam Định. Làm Tri Huyện.

- Sau anh em ông TRỨ, làng Phù Ủng, có thêm 9 ông đỗ cử nhân nữa. Trong đó có 2 ông họ Vũ đã nêu ở trên. Còn lại 7 ông, với 4 ông họ Nguyễn, 2 ông họ Trần, 1 ông họ Phạm là:

3/ ông Trần Như Sơn: sau đổi tên là TRẦN XÁ DIỆU. Đỗ cử nhân thứ 3/22 ở khoa Hương năm Mậu Thìn (1868). Làm tri huyện.

4/ ông Nguyễn Đình Khanh: đỗ thủ khoa thi Hương (giải Nguyên) năm Bính Tí (1876). Làm quan đến chức Bố Chánh Tuyên Quang.

5/ Ông Nguyễn Đình Thanh: là em ruột ông giải nguyên Khanh, và đỗ thứ 9/21 người ở Nam Định. Ra làm quanTri Huyện, rồi xin về cư tang. Hai anh em ruột cùng đỗ 1 khoa 1876.

6/ Ông Trần Khánh Duật:  Đỗ thứ 21/24 ở trường Nam, năm Kỷ Mão 1879. Làm Huấn Đạo.

7/ Ông Phạm Huy Thuyên: Đỗ thứ 49/74 ở trường Hà Nội – Nam Định – Ninh Bình năm Bính Tuất 1886 (khoa này ông Chu Mạnh Trinh thủ khoa). Không rõ làm quan chức gì?

8/ Ông Nguyễn Đình Chuẩn: Đỗ thứ 42/70 ở trường Hà Nội – Nam Định (thi chung) khoa Tân Mão 1891.

9/ Ông Nguyễn Bá Cung: là con ông cử Đình Khanh (giải nguyên). Đỗ thứ 10/50 ở trường Hà Nam, khoa Bính Ngọ (1906). Tri huyện.

Như thế, chỉ trong triều Nguyễn, làng Phù Ủng, ngoài họ Vũ ra, các họ khác còn có đến 9 ông đỗ cử nhân, 1 ông đỗ Tiến Sĩ (Phan Trứ)./.

Cự Vũ (Vũ Hiệp) soạn.


Nguồn tin: Ban liên lạc dòng họ Vũ Võ TP.HCM

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2009

Tìm hiểu sự di cư của dòng họ Phạm là hậu duệ của Phạm Tu

(Bài viết nhân ngày 08-9-2009 nhằm ngày 20 tháng 7 âm lịch kỷ niệm 1464 năm ngày mất danh tướng Phạm Tu)

Trước hết chúng ta xem thông tin về hậu duệ cùng huyết thống từ Danh tướng Phạm Tu

Theo cuốn Gia phả - khảo cứu và thực hành của nhà gia phả học Dã Lan – Nguyễn Đức Dụ, chúng ta được biết về hậu duệ của Phạm Tu:

Đời thứ 2: có con là Phạm Tĩnh

Phạm Tĩnh là con của Phạm Tu. Năm 582 đã giúp Lý Phật Tử - Hậu Lý Nam Đế (571-562) chống quân Phương Bắc, khôi phục thành đô. Ông khuyên Lý Phật Tử dời đô từ Ô Diên đến Phong Châu (Hạc Trì). Ông là tướng quốc thời này.

Đời thứ 3: có cháu là Phạm Hiển

Phạm Hiển là con Tướng quốc Phạm Tĩnh đã chiêu mộ dân chúng kháng Tùy từ 603-605 để rửa hận cho Vua (Hậu Lý Nam Đế) và cho cha (Phạm Tĩnh).


 Theo cuốn “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt, tập 1” có dẫn thông tin từ cụ Dã Lan căn cứ cuốn Phạm tộc thế phổ:

Hậu duệ của Phạm Tu ở vùng Trà Hương thuộc Nam Sách Giang (nay là Nam Trung, huyện Nam Sách, Hải Dương) có:

Đời thứ 14: Phạm Trì (Phạm Trí Dũng) sinh Phạm Chiêm

Đời thứ 15: Phạm Chiêm (889-951) - nhân vật nổi tiếng thời Ngô Quyền. Ông có con là Phạm Bạch Hổ, Phạm Mạn

Đời thứ 16: Phạm Mạn sinh ra Phạm Hạp, Phạm Cự Lượng,… (sinh được 5 trai 3 gái đều là người hiển đạt)

Đời thứ 16: Phạm Bạch Hổ gả con gái Phạm Thị Ngọc Duyên cho con trai trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập khi Ngô Xương Ngập chạy nạn về ẩn ở nhà Phạm Chiêm.

Đời thứ 17: Phạm Hạp (?-981) chống Lê Hoàn phải tuẫn tiết

Đời thứ 17: Phạm Cự Lượng (944-984)


Đời thứ 24: Phạm Ngũ Lão là hậu duệ dòng Phạm Mạn

Tìm hiểu về sự di cư

Khi quân Lương tấn công nhà nước Vạn Xuân vào năm 545, lão tướng Phạm Tu hy sinh. Lực lượng của Vạn Xuân phân tán ra hai vùng chính là họ Lý ở vùng trung du và miền núi Tây Bắc, họ Triệu ở vùng châu thổ sông Hồng. Về sau họ Lý đánh thắng Triệu Việt Vương cai quản vùng đồng bằng. Ban đầu đóng đô ở Ô Diên (Hạ Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội), sau về Phong Châu. Như lời khuyên của tướng quốc Phạm Tĩnh (sinh đầu thế kỷ VI – trước năm 545, mất cuối thế kỷ VI – sau năm 582). Như vậy con cháu của Phạm Tu theo họ Lý có Phạm Tĩnh. Ở thế kỷ thứ VIII còn có hai nhân vật họ Phạm cùng xuất thân gia đình dòng dõi ở vùng Đường Lâm có thể góp phần xích chuỗi sự phát triển của họ Phạm đó là:

- đầu thế kỷ thứ VIII có hoàng hậu Phạm Thị Uyển vợ của Mai Thúc Loan (?-722), mất những năm 720 khi đánh quân Đường trên sông Tô Lịch

 - cuối thế kỷ thứ VIII có mẹ của Ngô Quyền (898-944), bà là vợ Ngô Mân là người cùng châu

 Về địa lý thì vùng Đường Lâm và Hạc Trì (Phong Châu) chỉ cách nhau con sông Hồng. Theo thời gian, Phạm Tĩnh, Phạm Hiển sống cuối thế kỷ VI, đầu thế kỷ VII, nên chúng tôi giả thuyết là con cháu cụ Phạm Tu khi đánh quân Tùy thất bại sẽ rất có thể đã về vùng Đường Lâm ở thế kỷ thứ VII và đã có dòng họ Phạm rất danh gia ở đây và có thể hai bà hậu họ Phạm là người của dòng họ này chăng?

Một số con cháu Phạm Tu có thể theo Triệu Quang Phục về vùng Dạ Trạch chống quân Lương thắng lợi. Ngày nay vùng Hải Dương, Hưng Yên là cái nôi lớn của các dòng họ Phạm. Họ Phạm vùng này có dòng là hậu duệ của Phạm Tu như Phạm Chiêm là một vị Thủy Tổ lâu đời. Như thống kê ở trên thì gia đình ông thuộc hàng danh gia bậc nhất, con cháu hiển đạt. Phạm Bạch Hổ còn là thương nhân nổi tiếng. Có lẽ chính sự giàu mạnh của ông đã góp phần giúp Đinh Bộ Lĩnh thuận lợi khi chinh phục các sứ quân còn lại.

Đến thời Đinh Lê, nổi lên hai anh em Phạm Hạp – Phạm Cự Lượng còn có nhiều điều chưa thống nhất:

- Có người cho là Phạm Hạp tuy khép tội chết nhưng chỉ là “xử”, còn Lê Hoàn muốn dùng Phạm Cự Lượng thì Phạm Hạp không bị giết,

- Có người cho là Phạm Cự Lượng vô tự, nhưng có người lại cho là Phạm Hạp vô tự.

 Nhưng dù sao con cháu họ sẽ phải ẩn dật một thời gian dài sau thời Đinh, họ sống từ vùng đồng bằng sông Hồng vào hết Thanh Nghệ. Đơn cử thống kê được 32 dòng họ lớn nhỏ là hậu duệ Phạm Ngũ Lão cả ở Miền Bắc và Miền Trung. Tuy nhiên việc kết nối là vô cùng khó khăn.

 Một câu hỏi nêu lên về mặt tông giống: có phải dòng họ Phạm hậu duệ Phạm Tu có các bà hậu: Phạm Thị Uyển, mẹ Ngô Quyền, Phạm Thị Ngọc Duyên,…? Và đàn ông cũng chỉ vào hàng tứ trụ triều đình là tột đỉnh? (Như Phạm Tu, Phạm Tĩnh)

Tháp Bút

------------
Danh sách 32 dòng họ Phạm được cho là hậu duệ Điện soái Phạm Ngũ Lão:

  1. Họ Phạm-Đông Thọ, xã Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên
  2. Họ Phạm ở Cốc Tràng Xã Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng
  3. Họ Phạm Ngọc h. Lương Ngọc, Hải Dương
  4. Họ Phạm xã Châu Khê, Bình Giang, Hải Dương (làng có tướng Phạm Sỹ sống thời Điện soái)
  5. Họ Phạm-Đào Quạt, xã Bãi Sậy, Ân Thi, Hưng Yên
  6. Họ Phạm Đăng ở Yên Mỹ huyện Yên Mỹ, Hưng Yên
  7. Họ Phạm Đăng xã Giai Phạm Yên Mỹ, Hưng Yên
  8. Họ Phạm xã Phạm Xá, Yên Mỹ, Hưng Yên
  9. Họ Phạm-Làng Bông, h. Kim Động, Hưng Yên
  10. Họ Phạm xã Xuân Bản, Mỹ Hào, Hưng Yên
  11. Họ Phạm bốn Làng Vy, Thái Bình: Trà Vy, Lại Vy (Kiến Xương), Hữu Vy (Tiền Hải), và Thuận Vy (Vũ Thư)
  12. Họ Phạm ở Lịch Bài, xã Vũ Hòa, Kiến Xương, Thái Bình
  13. Họ Phạm-Tiên Hưng, Phú Lễ, xã Tự Tân, Vũ Thư, Thái Bình
  14. Họ Phạm phố Nam Ngư, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
  15. Họ Phạm phường Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội
  16. Họ Phạm-Làng Chuông, Thanh Oai, Hà Nội
  17. Họ Phạm-Làng Tía, Thường Tín, Hà Nội
  18. Họ Phạm đến xã Tân Hội, Đan Phượng, Hà Nội
  19. Họ Phạm thôn Hà Nạn, Hải Phúc, Hải Hậu, Nam Định
  20. Họ Phạm xã Quỳnh Bá, Quỳnh Lưu, Nghệ An
  21. Họ Phạm-Linh Kiệt, Diễn Phúc, Diễn Châu, Nghệ An
  22. Họ Phạm-Trà Lộ, xã Hòa Hải, q. Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng
  23. Họ Phạm Nhữ-Mân Thái, quận Sơn Trà, Đà Nẵng
  24. Họ Phạm thôn Phước Hưng, xã Hòa Nhơn, Hòa Vang, Đà Nẵng
  25. Họ Phạm ở Hà Thanh, xã Điện Hòa h. Điện Bàn, Quảng Nam
  26. Họ Phạm ở Long Hội, xã Điện Thọ, h. Điện Bàn, Quảng Nam
  27. Họ Phạm xã Cẩm Vân, Điện Bàn, Quảng Nam
  28. Họ Phạm xã Cẩm Sa, Điện Bàn, Quảng Nam
  29. Họ Phạm Nhữ-Hương Quế, xã Quế Phú, Quế Sơn, Quảng Nam
  30. Họ Phạm Nhữ ở thôn Đồng Tràm, xã Bình Phục, Thăng Bình, Quảng Nam
  31. Họ Phạm Công Mộ Đức, Quảng Ngãi
  32. Họ Phạm ở Thi Phổ, xã Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009

Gìn giữ "gia bảo" họ tộc

Có những người đã âm thầm bảo vệ hương án thờ ông bà tổ tiên, những bảng phả hệ, những sắc phong của dòng tộc giữa binh biến và ly tán. Thậm chí họ đã ngã xuống để giữ gìn đến cùng những vật gia bảo ấy.

Bức gia phả đẫm máu

Làng Kim Đái nay thuộc xã Tam Thăng, huyện Núi Thành (Quảng Nam), từ xưa đã nổi tiếng với hai câu thơ "Kim Đái đai vàng đâu thuở trước/Thạch Kiều cầu đá mãi còn đây". Trong chiến tranh, xóm Áp Bắc thuộc làng Kim Đái chỉ có 45 nóc nhà nhưng đã có đến 70 liệt sĩ và 15 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ông Trương Đưa, trưởng tộc Trương ở đây là một trong những người tham gia bám trụ, đào địa đạo trong nhiều năm. Ông đã bị lính Mỹ bắn chết trong một hoàn cảnh rất hy hữu và hết sức cảm động vào năm 1969.

Hôm ấy xóm Áp Bắc chìm trong lửa đạn. Lính Mỹ từ căn cứ Chu Lai mở cuộc hành quân càn quét vùng ven biển. Nhà thờ họ Trương bị đốt cháy.

Là trưởng tộc, ông Đưa quyết bảo vệ cho được bộ phả hệ của dòng họ đang bị nguy cơ biến thành tro. Ông quyết xông vào lửa ôm lấy ống tre đựng bảo vật chạy thoát ra ngoài. Lính Mỹ tưởng Việt cộng ôm súng liền bắn theo, ông ngã quỵ xuống bờ rào và tắt thở. Bộ phả hệ vẫn được nắm chặt trong bàn tay nhuốm đầy máu. Dân làng, vợ con chôn cất ông trong nước mắt và mang bộ phả hệ ấy về giữ cho đến ngày hòa bình...

Đại ấn của vua Lê Thánh Tông

Ở làng Hương Quế bên Quốc lộ 1A, thuộc xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, Quảng Nam có một nhà thờ của tộc Phạm xây dựng từ thời vua Tự Đức. Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, nơi đây còn lưu giữ gia phả tộc họ và 6 tờ sắc phong từ các đời chúa Nguyễn, vua Lê.

Đáng chú ý nhất là đại ấn "Đế mạng chi bửu" của vua Lê Thánh Tông và "Chế mạng chi bửu" của vua Lê Thần Tông ban tặng cách đây gần 6 thế kỷ vẫn còn nguyên vẹn, được bảo vệ cẩn thận trong một ống đồng.

Theo gia phả tộc Phạm ở Hương Quế, bậc tiền hiền vào đây đầu tiên là Phạm Nhữ Dực, con trai thứ 5 của danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần.

Năm 1401, Phạm Nhữ Dực giữ chức Chánh đô án vũ sứ, phụ trách di dân ở khu vực Quảng Nam - Quảng Ngãi. Cháu nội của ông về sau là Phạm Nhữ Tăng theo vua Lê Thánh Tông vào Nam năm 1471 rồi được phong chức Quảng Nam thừa tuyên đô thống. Ông mất năm 1478 ở Bình Định, được vua cho cải táng đưa về an nghỉ tại làng Hương Quế. Trước mộ của cụ Phạm Nhữ Tăng hiện nay vẫn còn câu đối do chính vua viết, tạm dịch nghĩa: "Nghĩa sĩ lắm mưu cơ, góp sức đồng lòng bình Chiêm quốc; Gương đài thêm rạng rỡ, hương hồn ngàn thuở rạng trời Nam"

Ông Phạm Trợ, người đang được giao trọng trách giữ gìn những tài liệu quý giá có một không hai nêu trên kể lại: Vị tiền nhiệm trước đây là cụ Phạm Trí, nay đã trên 96 tuổi, là hậu duệ đời thứ 17 của tộc Phạm vào định cư ở xứ đàng Trong. Cụ Trí theo lời trăn trối của các đấng sinh thành là sống chết gì mỗi thế hệ cũng phải thay nhau giữ cho được gia bảo của tổ tiên, nên dù chiến tranh, ly tán mấy mươi năm cụ Trí đã phải vất vả mang theo bên mình.

Trong đời cụ Trí, một lần vào năm 1949, lính Pháp đi lùng sục đốt phá làng đã vào nhà thờ tộc Phạm lục tìm tài liệu, vũ khí của Việt Minh. Chúng đã lật tung gia phả, những tờ sắc phong ấy và ném bay tứ tán. Khi chúng rút quân, ông mới đi nhặt lại cất giữ và rất may không có sự hư hại nào. Khi giao nhiệm vụ lại cho ông Trợ, cụ Trí đã sống ngót một thế kỷ, nhưng ông nói khiêm tốn: "Việc lớn nhất đời tôi là giữ được nguyên vẹn bửu bối của tổ tiên để lại!"

Trên đây là hai trường hợp cảm động mà chúng tôi ghi lại được sau những lần đi thực tế ở Quảng Nam. Giữ gìn gia phong cũng chính là giữ lại một phần quan trọng của văn hóa và lịch sử- nguồn cội của mỗi chúng ta. Những giá trị ấy xứng đáng được trả giá như thế để bảo tồn và truyền lại cho con cháu đời sau.

Trương Điện Thắng
(Theo Thanh Niên)

Nguồn tin: Tiền Phong Online 

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2009

Bàn về sự di cư của các dòng họ Phạm ở thế kỷ 14 và thế kỷ 15

(Bản nháp)

Đầu thế kỷ 14, nhà Trần đương thịnh, dân cư vì thế sinh sôi phát triển về những mảnh đất xưa kia thường hay tranh chấp.
Cuối thế kỷ 14 là giai đoạn nhà Trần suy vong, Chiêm Thành nhiều lần đem quân đánh vào Thăng Long. Vùng Hoan Diễn thường xuyên bị giặc quấy phá. Nhiều lần nhà Trần xuất quân bình Chiêm, có một số lần thắng lợi nhưng thất bại cũng không ít. Lửa nhà Trần bị Hồ Quý Ly dập tắt, khi quân Minh xâm lược bùng lên ánh lửa Hậu Trần ở vùng Nghệ An và phía trong.
Khởi nghĩa Lam Sơn kéo hào kiệt về Thanh Hóa, Nghệ An rồi đến khi thắng lợi lại tản ra khắp vùng châu thổ sông Hồng.
Cuối thế kỷ 15 là giai đoạn bình Chiêm đến quá Thăng Hoa (Quảng Ngãi ngày nay), lúc này nhiều dòng họ Nam tiến. Gần hai thế kỷ này đánh dấu sự di cư của nhiều dòng họ.
Đa số các dòng họ lâu đời chỉ ghi được gia phả liên tục từ khi ông tổ về nơi định cư mới vào thời này. Sự hủy diệt của chiến tranh, đặc biệt là sự tàn bạo của giặc Minh khiến cho hầu như toàn bộ thư tịch của Đại Việt bị xóa sổ. Do đó, tìm được dòng họ nào có gia phả ghi chép liên tục vượt qua thời này là vô cùng hiếm hoi.

1. Sự định cư vào phía trong của các dòng họ có các vị quan họ Phạm
2. Sự chuyển cư tránh sự quấy phá của Chiêm Thành từ phía trong ra Bắc
3. Sự phiêu tán của các dòng họ thân cận nhà Trần
4. Sự định cư của một số dòng họ thân nhà Hồ
5. Sự phiêu bạt của các dòng họ khi quân Minh xâm lược
6. Anh hùng tụ nghĩa về Lam Sơn,
7. Bình Ngô xong các dòng họ trở về cố hương, các dòng họ gốc xứ Thanh ra Bắc
8. Các dòng họ theo các tướng lĩnh bình Chiêm, khai khẩn đất mới xứ Quảng ngày nay

Họ tên, hệ thống tông phả của người Việt và vùng Kinh

Những Người " Xuống Đồng" Trước Nhóm Mường Thái Lam Sơn

Họ tên, hệ thống tông phả của người Việt và vùng Kinh

Về "họ", "tên" của người Việt Nam, người cùng quốc tịch dành cho cư dân bản xứ trên nước Việt Nam, thì gần đây chúng ta có một nghiên cứu tuy mang tính cách liệt kê, thống kê nhiều nhưng vẫn có tham vọng tổng quát hoá cho cả một vấn đề thật là phức tạp bao gồm các phương diện nhân chủng, lịch sử... trong đó không thể nào tránh khỏi xen lẫn những ý thích cá nhân bất chợt không đoán định được. (1)

Cũng dễ hiểu là tập đoàn đa số trên đất nước này là tộc đoàn Việt/Kinh cho nên vấn đề hầu như phải xoay quanh nhóm người này. Có sự tranh cãi nhiều và mang tính bác học quanh vấn đề ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa trên người Việt nhưng nói chung có thể thấy rằng các họ người Việt là từ gốc Trung Hoa, hay dù có gốc nào khác cuối cùng cũng mang ngữ Hán, dạng Hán Việt. Chính hình thức chung này đã gây ra những sai lầm về nhận định, về hình thức tiên khởi, cho rằng người Việt lúc nào cũng phải có "họ", có "họ" là điều đương nhiên không cần tranh cãi, do đó mới cố đi tìm các họ "thuần tuý Việt".

Nhưng có một thời không phải người Việt nào cũng có họ, chứng cớ là ở tấm bia 1210 của thời Lí, đến chủ nhân các khoảnh ruộng mà cũng chỉ có tên đi sau từ "thằng" mà thôi. (2) Ảnh hưởng Trung Quốc chưa tới nhiều trên cái nền cổ sơ của dân Việt thời đó. Ông họ Nguyễn trong tấm bia là nhà giàu, bỏ cả ngàn quan mua hơn trăm mẫu cúng chùa, có họ là phải. Những người thấp thỏi kia chỉ cần có tên để xác nhận chủ quyền, và tiếng gọi "thằng" cũng không có ý khinh miệt như trường hợp nickname "thằng Cặt" của người họ Quách/Lí chỉ huy đánh Tống các năm 1075-77 vậy. Ở tầng lớp trên, người ta có "họ" hoặc bởi là gốc Hán di cư, hoặc bởi gốc bản thổ nhưng cần đi vào khuôn khổ hành chính thuộc địa nên phải theo quan niệm tông phả của người cai trị. Tính cách phức tạp của hình thức tiếp nhận văn hoá này thật khó biện biệt rành rẽ cho từng trường hợp. Nhưng trong hình dạng chuyển hoá tập thể sơ khởi, có thể đoán về hai trường hợp của tập họp người bên lề trung châu, bên lề vòng Hoa hoá của thời thuộc địa. Quan cai trị chỉ cần trực tiếp biết người ở tầng lớp trên cao của tập họp này để qua họ mà thu thuế, bắt người phục dịch cho nên đem họ vào sổ "đinh", do đó mới có họ Ðinh. Lớp người dưới tay họ, không kể phụ nữ, chỉ đáng ghi nhận ở giới nam, chỉ cần quan tâm đến "thằng" (để bắt người sưu dịch) cho nên lúc cần thì cho mang dạng chung của "cái giống": bòi, và tất cả có họ Bùi (hay có thể ngược lại: "bùi" chỉ cái giống, nói trại là "bòi".)

Một dấu vết diễn biến về "họ" thấp thoáng giống trường hợp trên, còn thấy đến gần đây, lần này tập đoàn đa số là Việt với các dấu vết sàng lọc qua văn hoá Hoa một thời gian dài. Ông Nguyễn Ðình Tư trong Non nước Khánh Hoà (3) ghi về trường hợp người Hạ, dân thiểu số ở vùng Ðầm Môn Hạ, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, Khánh Hoà, đã Việt hoá gần hoàn toàn. Ông thấy, riêng qua hôn nhân nếu trai Việt lấy gái Hạ thì con mang họ cha bình thường (đương nhiên là "Việt"), còn nếu lấy lẫn nhau, hay gái Việt lấy đàn ông Hạ thì người con trai mang họ Ðinh, con gái mang họ Trần. Tác giả giải thích người Hạ là dân Mã Lai ở Hạ Châu (Singapore) đến, (chắc là theo thuyết của ông Bình Nguyên Lộc) mà không chịu cách giải thích của địa phương cho rằng đó là người thiểu số cùng dòng với người Thượng ở Tây Nguyên, chỉ vì ở phía đồng, biển mà được gọi là người Hạ ("dưới thấp") thôi. Thật ra cách giải thích ở địa phương là đúng vì ta có chứng cớ từ Lê Quý Ðôn ở Phủ biên tạp lục. Người "Mọi hạ" (nếu gọi không tránh né va chạm) đó, có thể mang ảnh hưởng Chàm, Khmer (đội vật trên đầu chứ không gồng gánh) sở dĩ còn sót lại trong vùng chỉ vì họ ở vào thế khuất lấp trên vùng bán đảo đó mà thôi. Họ đã được nhân viên Trường Viễn Ðông Bác Cổ nhận ra hồi những năm 30 của thế kỉ XX. Họ Ðinh ở đây là một chứng cớ khác về gốc thiểu số vì cũng giống như những người Thượng họ Ðinh phía tây Quảng Ngãi ngày nay (Sơn Hà, Ba Tơ). Còn họ Trần chắc là vì họ "ở trần", lại cũng một dấu vết thiểu số khác nữa mà bây giờ (2007) hẳn cũng xa lạ lắm rồi. (Có ông đạo ở Bà Rịa tên đạo Trần, vì suốt ngày "ở trần".)

Chúng ta thấy các chính quyền thời độc lập áp dụng chính sách đưa lớp người cho là bên ngoài tộc đoàn "của mình" vào sổ bộ bằng cách cho mang một "họ", tuy vấn đề càng lúc càng phức tạp. Sự đổi thay từ không có "họ" đến có, sẽ đi theo một tình hình tiến triển ngoài cả ý định của chính quyền, theo sự thích nghi tự nhiên ứng hợp với tình thế đương thời trong đó không tránh được cả sự ngẫu nhiên. Tuy nhiên quan niệm tông phả của Trung Hoa qua cả ngàn năm cũng không che lấp hết được dấu vết bản xứ. Cho đến ngày nay, người ta còn quan sát thấy trên vùng được coi là trung tâm Mê Linh của Bà Trưng, có hiện tượng con cái lấy chữ lót của cha làm họ của mình, tất nhiên là qua nhiều hình thức phức tạp bởi ảnh hưởng lâu đời của văn hoá Hán trên đất Việt. Tác giả Nguyễn Duy Hinh đã dùng nhóm từ dân tộc học Hán "Phụ tử liên danh" để chỉ hiện tượng này, hiện tượng ta còn thấy ngày nay ở ÐNÁ (4) cả trên tầng cấp cao như trường hợp bà Aung San Suu Kyi (con Aung San) của Myanmar, hay nữ Tổng thống Megawati Sukarnoputri (con Sukarno) vừa qua của Nam Dương.... Tất nhiên ta không loại trừ ý định giương danh vì mục đích chính trị của những người này.

Các "họ" được sử dụng theo tính cách tông phả Trung Hoa đã che khuất các nguồn gốc chủng tộc, tộc đoàn khác nhau trước khi họ nhập vào khuôn Việt, do đó lại nảy sinh cũng một quan niệm về "người Việt thuần tuý" có thể nói là mang tính cách "soán đoạt". Sự khác biệt nguồn gốc đó vì không được để ý nên người ta dễ dãi đi tìm giải đáp vấn đề nơi các quyển sử xưa, các thần tích, và sai lầm này thấy cả ở những người mà kiến thức chuyên ngành thật đáng nể nhưng bản thân lại hời hợt trong lập luận. Lỗi không chỉ ở người nghiên cứu chuyên ngành nhân danh học mà còn là ở các chuyên ngành được mượn để dẫn chứng. Với người Việt thì lỗi ở ngành sử học Việt "truyền thống" quá tin vào bất cứ chứng cớ nào được gọi là của quá khứ, không sai chạy. Ví dụ tác giả Lê Trung Hoa (và những người khác) cứ kể tên Cao Lỗ, Ðào Nồi, Ðinh Toán là quan, tướng của An Dương Vương, cứ kể tên Trần Thị Ðoan, là mẹ của Trưng Trắc, tên Lê Thị Hoa, một nữ tướng của Hai Bà để làm chứng rằng người Việt của thời sơ sử, của thế kỉ I đã mang các họ trên! Cứ coi thần tích là sử kí đương thời, đem ra trích dẫn nên mới xảy ra trường hợp cha các ông Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu "làm quan đời Tần" (thế kỉ III tCn.) qua đất Giao Chỉ lấy vợ, "ở lại đây [chỉ] 39 năm" mà đẻ được ba người con đều là sứ quân của thế kỉ X! (5)

Sách vở, sử kí được chép bằng chữ Hán tạo ra một thói quen giải thích nguồn gốc theo hướng này, ví dụ tập họp Lưu Gia lúc đầu của Trần trên bờ nước, dễ dưa đến ý nghĩ đó là vùng "nhà họ Lưu" trong khi sự kiện về sau không cho thấy ai mang họ Lưu trong vùng gốc Trần này cả. Chữ Hán che lấp âm Việt cho nên với (thôn/làng) Ðinh Xá ở Hà Nam đã được giải thích là khu vực hành chính cơ sở được tạo lập bởi người họ Ðinh, nhưng từ khi có âm quốc ngữ thì rõ ra rằng dân chúng ở nơi ấy còn chỉ thêm một thôn "Ðanh" Xá để có căn cứ chắc chắn mà công nhận các chùa Bà Ðanh trong vùng. Cũng vậy, trên vùng Thuận Thành tỉnh Hà Bắc, tên xã Dương Xá văn hoa đã che lấp thôn Ðanh quê mùa, thấp thỏi nhưng may mắn xuất hiện trong báo cáo 1938 của làng xã cho Phủ Thống sứ Bắc Kì (6) để làm chứng cho sự hiện hữu của một chùa Bà Ðanh tuyệt tích, lập nên bởi đám tù binh Chàm thế kỉ XI ở đấy!

Ý thức tông phả mang đến bằng cớ dấu ấn của một dòng họ được giữ gìn qua thời gian nên không tránh khỏi bị lợi dụng. Các tay nổi loạn đổi họ để dựa vào các thế lực to lớn đương thời, hoặc có quá khứ lâu dài, như anh em Tây Sơn lấy họ Nguyễn, Tạ Văn Phụng lấy họ Lê, chưa kể ông con lính mã tà Phan Phát Sanh xưng Nguyễn Văn Lạc để hi vọng nối dòng Hàm Nghi... những sự kiện lớn này trùm lấp các chuyện đổi họ lặt vặt của các cá nhân muốn trốn tránh pháp luật hay muốn tìm một họ "sang" hơn. Những người họ Ðoàn ở Hải Dương ngày nay đi chiêu tập bà con khắp trong nước, cố liên kết với ông Ðoàn Thượng hẳn không phải vì tính cách bại tướng của ông này trong thế tranh chấp quyền hành giành ngôi Lí mà vì uy danh huyền thoại của ông tướng ôm đầu bị chặt đứt được ngựa thiêng chở về nơi hưởng huyết thực, một truyền thuyết lại cũng khuất lấp, ảnh hưởng từ các nhóm tù binh Chàm quanh đó. Ấy thế mà có người đã sang còn muốn sang hơn. Ðọc Nguyễn Hữu tộc gia phả, Thạch Hà, Thủy Châu, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế. (7) thì thấy chuyện tham lam sửa gia phả có dáng đã đạt thành chứng cứ lịch sử, hoàn thành tham vọng giúp cho sự thiếu sót của sử quan xưa. Những người này học sơ sài "đạo Thánh hiền" lúc tàn tạ nên không nghe Phan Phu Tiên nhắc lời Khổng Tử: "Không phải ma nhà mình mà cúng là mắc tội siểm nịnh." Nhưng họ đã có ông Hồ Quý Li dẫn đường, không chỉ bằng lòng với ông tổ thời Ngũ Ðại (thế kỉ X) mà còn xưng mình là con cháu Ngu Thuấn để đặt tên nước là Ðại Ngu rồi! Chuyện "vẽ" gia phả này không phải là đơn độc và mới xảy ra phồn tạp gần đây vì có quá nhiều người "có chữ" thất nghiệp trong lúc người có tiền, có thế lực mà xuất thân thấp cũng đông. Nó đã lẫn vào các cuốn gia phả xưa hơn, khó tách biệt ra được.

Ý thức tông phả thật ra không phải chỉ là của Trung Hoa mà chung cho cả những con người hay tập đoàn người coi trọng sự hiện diện vượt trên từng thời gian sinh sống của chỉ một cá nhân. Người Khmer chỉ có họ ở tầng lớp cao cho nên Pol (ông) Pot phải lấy thêm tên họ đầy đủ: Saloth Sar. Còn những người ở địa vị thấp, đột nhiên xuất hiện trong lịch sử vì liên hệ đến một dòng quản lí đất nước hay theo một biến cố lớn, thường lúc đầu chỉ mang tên mà không có họ. Ta ngờ rằng các tướng của chúa Nguyễn được ghi "khuyết tính", có thể là bởi sử quan không biết họ gì để ghi hay cũng chính là vì bản thân những người này không có họ. Các tướng lãnh Tây Sơn đầu hàng Nguyễn thì còn giữ được tên họ rành rẽ, còn những người khác không có họ vì khuất lấp theo triều đại "ngụy" nhưng cũng có thể là các Ðô đốc Long, Ðô đốc Bảo, Hô hổ hầu (tên Hổ răng hổ tướng to miệng, cầm một cánh quân của Tây Sơn?)... đã không có họ. Ngay chính các lãnh tụ Tây Sơn đã chọn họ Nguyễn nhưng một người đương thời lại cho thấy họ mang một họ lạ hoắc: họ Ðồng. Lê quý dật sử ghi liên tục "thổ hào tên là Ðồng Toàn... sinh ra Ðồng Phúc, [con gọi là Ðồng?] Thư Nhạc." (8) Không rõ bản văn chính như thế nào nhưng họ Ðồng đột ngột xuất hiện rõ ràng không liên hệ gì với những tù binh ở Nghệ An bị bắt trong trận chiến 1655-1661, như chính Bùi Dương Lịch, tác giả sách, người Nghệ An, đã không nói tới mà chỉ nhắc qua rằng "cụ tổ (Tây Sơn) đi lính vào nam đóng ở Quy Nhơn." Sử quan Nguyễn không nói gì về liên hệ của họ Hồ và Tây Sơn, chỉ nhắc chung đến tù binh trong chiến dịch 1655-1661 và tên huyện Hưng Nguyên, có lẽ do đó mà Hoàng Lê nhất thống chí chêm vào xác nhận Nhạc "dòng dõi Hồ Quý Li, cùng ngành với Hồ Phi Phúc" (huyện Hưng Nguyên), lấy họ của mẹ vì "thế lực họ Nguyễn đương mạnh". (9) Thế rồi người sau lại "bắt quàng làm họ", cho cha Huệ (không nhắc tới Nhạc) là Hồ Phi Phúc không kể rằng ông Hồ Phi Phúc nếu là tù binh năm xưa thì không thể sống đến hơn trăm tuổi để sinh Nguyễn Huệ được.

Chữ "đồng" vốn là phát âm nôm cho chữ "động" (như Ðồng Hới = Ðộng Hải), chỉ một vùng cư trú hẻo lánh, hay với nghĩa "đồng (bằng)", nên họ đó có thể là cách lấy tên từ dấu vết địa điểm sinh sống như người ta tìm được chứng cớ ở Nguyên (Nguyễn) Xá, huyện Ðông Hưng, Thái Bình, những người đầu tiên đến lập làng mang họ Kênh vì ở gần kênh nước, cùng những người khác mang họ Cầu, họ Trại với nguyên cớ tương tự. (10) Có lẽ dấu vết chữ "đồng" lại là nguyên cớ khiến có thuyết cho rằng mẹ anh em Tây Sơn là Nguyễn Thị Ðồng. Dù sao thì sự rối rắm của vấn đề cũng chứng tỏ là ngay đến thế kỉ XVIII, người được nhận là Việt không hẳn là ai cũng có họ, hay coi việc có họ là quan trọng. Cho nên vấn đề đổ ngược về trước như đã xảy ra với tấm bia 1210 không phải là điều nghịch thường mà còn là phản bác những ai xác quyết rằng người Việt có họ từ thời Hùng Vương!

Từ trung tâm là Ðại La rồi Thăng Long, bên trong địa vực của châu Giao thời thuộc địa chuyển qua Ðại Việt, một số họ của những tộc đoàn thiểu số hoặc mang dạng Hán có sẵn, sẽ vẫn giữ nguyên với triều đình Việt như các họ Nùng, Hoàng, Mạc... hoặc lại sẽ được ban phát, cải sửa từ Thăng Long như trường hợp họ Giáp, có thể từ tên đơn vị hành chính "giáp", được kéo dài nét sổ dọc lên về phía trên thành họ Thân, đặc biệt có liên hệ hôn nhân với nhà vua Lí vì trấn giữ con đường xâm nhập quan trọng từ phương bắc sang.

Có vẻ trên vùng trung châu có kinh đô Thăng Long, do đó được gọi là vùng Kinh, từ sau thời độc lập, các họ tương đối được ổn định chỉ trừ thêm trường hợp nhóm tù binh Chàm đem về trong các trận chiến 1044, 1069 đã mang lại một họ mới kéo dài đến hai ba trăm năm, chưa kể giai đoạn chuyển hướng trong dòng Việt mới. Họ Phan ở đây vốn nguyên gốc hẳn không là một xác định tông tộc mà chỉ là một chỉ danh mượn của văn hoá Trung Quốc áp đặt trên tất cả tộc đoàn ở về phía tây của họ, riêng với Ðại Việt là do lầm lẫn phương hướng nghĩ rằng người Chàm ở về phía tây của mình. Và cũng ngay từ thời độc lập các chính quyền cũng phải đối phó với sự tràn lấn của tộc Thái có dấu vết nặng nề ở thế kỉ IX với "giặc Nam Chiếu". Sự pha trộn nhân chủng trên vùng Kinh do các cuộc tranh chiến này không để lại dấu vết nhưng không thể coi là nhẹ bởi vì đã bắt đầu thấy một họ người Thái chuyển qua trong sử Việt: họ Trịnh. Chúng ta sẽ bàn về họ này ở phía nam, vùng Trại, nhưng Lê Hoàn đã có vợ là bà Trịnh Quốc (982) chứng tỏ ngay ở Hoa Lư người ta cũng đã để ý cầu thân với một tộc đoàn Thái gần đâu đó. Sử ghi năm 1000, Hoàn cất quân đánh Trịnh Hàng, Hàng chạy vào Tản Viên. Nếu nối kết với "truyện Hồ Tinh" (11) thì ta nhận ra tộc đoàn ở Tản Viên là người Thái Trắng "Bạch Y Man... gác cây kết cỏ mà ở" (ở nhà sàn), có mối liên lạc đến phía tây thành Thăng Long qua chuyện vị pháp sư đội lốt cáo chín đuôi tổ chức lễ hội hợp hôn trong động kín, xung đột với chính quyền Thăng Long ("Long Quân") còn dấu vết hồ Tây, làng Cáo (Hồ Thôn), sau sẽ là nơi trú ngụ của thần Phù Ðổng khi Lí rước về thờ cúng.

Lí về ngự trị ở Thăng Long cũng phải lãnh trọng trách ngăn cản dòng người Thái tiến về đông như nhà Ðường thế kỉ IX dưới áp lực của chức quyền "Thác đông tiết độ" của Nam Chiếu. Lí cũng thành công, bắt người, cướp được ngựa đem khoe (và cũng để hù dọa) Tống. Dấu vết ngựa đặc sản của Nam Chiếu, ưu việt trong sự di chuyển, trong chiến tranh từng hấp dẫn triều đại Angkor, lại thấy nơi con Bạch Long thần mã được tán tụng của Lí Thái Tổ đến con ngựa nê thông của Trần Duệ Tông chiến bại, được khen tiếp nơi con ngựa chở chủ nhảy được qua hào nước thoát tay quân Chiêm rượt theo (1383) và được đặt tên riêng: Tử Bất Tề! Họ Lí, cũng như Trần về sau đã thành công trong việc ngăn chặn được dòng người Thái tràn xuống đồng bằng nhưng cũng để len lỏi được vào chính quyền những người đã trung châu hoá như có thể là nhân vật Trịnh Văn Tú làm Thiếu sư thời Lí Thái Tổ, đạo sĩ Trịnh Trí Không ở triều Thái Tông, Trịnh Phẫu đỗ Thái học sinh (1232).

Các tập đoàn thiểu số phía bắc, đông bắc có vẻ dễ thích ứng hơn, hẳn vì sự chọn lựa phải đứng về phía Thăng Long trong xung đột với chính quyền Tống, Nguyên ngay trên con đường tiến quân của các thế lực phương Bắc. Họ Giáp/Thân có thông gia với Lí nhiều đời, tuy không phải lúc nào cũng thân thiện bởi vì thấy có dáng chen vào việc giành ngôi của nhân vật Thân Lợi (1141). Họ Hoàng (và họ Mạc) được coi là thuộc thành phần "thổ quan" ở biên giới Trung, Việt đôi khi thấy có tác động lớn trong các biến cố giữa hai nước. Thế rồi ngay trong triều Lí có Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền (1161) từng được cử chiêu dụ vùng man động để đi đãi vàng (1143) và lúc chết (1161) được bãi chầu 5 ngày vì coi là có công lớn trong việc giúp Anh Tông lên ngôi. Họ Dương kề phía bắc kinh thành được cử coi vùng biên động (1143), làm phò mã (1144), khu vực riêng được nâng lên thành Phủ, bị thất bại trong vụ lật đổ Ðỗ Anh Vũ (1150) mà không hề hấn gì, chỉ bị "tội lưu nơi xa, (nước) độc" theo kiểu trả về quê cũ! Còn cuối Trần nhân âm mưu giết Lê Quý Li thất bại (1399) mới thấy ra một họ Lương phụ đạo vùng Tuyên Quang của Lí, chận đánh quân Nguyên được phong hầu, nghĩa là vào vòng tông tộc quý hiển Trần, được sử ghi gia phả nối tiếp cẩn thận. Ngoài ra, các Viên ngoại lang là các thế lực địa phương phục vụ Lí, có tên, có họ nhưng ta không thể phân biệt được thành phần chủng tộc, tuy rằng với Lí thì một số những người này hẳn thuộc thành phần Di Man đất Mân đã Hoa hoá nhiều. Những người cầm đầu các tộc đoàn này, theo tình hình chung, chịu ảnh hưởng Trung Hoa nên các lãnh tụ đã có họ, còn phần dân chúng chưa chắc mang được một họ nào tuy là dần dần theo một sự thăng tiến nào đó cũng phải kiếm cho ra một họ riêng của gia tộc mình để, nếu may mắn, chen được vào sử Việt, thành "người Việt" không còn tranh cãi. Lại cũng nên để ý trường hợp "thổ tù hoá" ngược lại, ví dụ con cháu Ngự Man Vương Lê Ðinh đóng ở Phong Châu, khi Lí lên nắm quyền, trở thành "phiên thuộc" lại làm thông gia với Lí.


Vấn đề của vùng Trại

Sự phân biệt Kinh/Trại được nhắc nhở nhiều nhất trong đời Trần, đặc biệt trong việc tuyển lựa nhân tài qua thi cử. "Hồi quốc sơ, cử người chưa phân kinh trại, người đỗ đầu được ban cho trạng nguyên. Ðến nay chia Thanh Hoá, Nghệ An làm trại, cho nên có phân biệt kinh trại." Sự phân biệt khu vực chính thức cho là bắt đầu từ năm 1256 đó nhưng thật ra tính chất phân vùng cho Ðại Việt như trên có căn bản rất sâu xa, phản ảnh qua các sự kiện rất xưa. Có thể thấy lờ mờ thời sơ sử qua vị trí làng Ðông Sơn của Thanh Hoá được chọn đặt tên cho nền văn minh đồ đồng của Việt Nam. Khi Hán chiếm lĩnh thuộc địa đặt tên cho khu vực quản trị thì chỉ có hai: Giao Chỉ và Cửu Chân, và lại cũng cho thấy điều đó có thể xuất hiện ngay từ thời đại Triệu Ðà hàng trăm năm trước. Tên Giao Chỉ thì còn nhiều tranh luận nguyên gốc, chứ tên Cửu Chân thì mịt mù, chứng tỏ thật xa lạ với người Hán đương thời. Vì thế tuy có thêm một quận Nhật Nam ở cái đuôi phía nam thuộc địa co dãn theo sức đối phó với các nhóm dân bản xứ vùng ấy, đến thời đại độc lập, các chính quyền ở Hoa Lư bên rìa đồng bằng phía bắc, ở Thăng Long ngay giữa đồng bằng ấy đều nhìn vùng Cửu Chân cũ như là một nơi không đáng tin cậy, một chốn thù địch. Lê Hoàn "giết người hai châu (Hoan, Ái) không biết bao nhiêu mà kể" (989), còn Lí Thái Tổ thì cho "người Diễn Châu không theo giáo hoá, ngu bạo làm càn" để có cớ đem quân đánh dẹp (1012). Vì thế ta thường thấy xuất hiện các tên "trại" nơi này: trại Bà Hoà của Thân vương Lí Nhật Quang ở Thanh Hoá, trại Ðịnh Phiên ở biên giới phía nam có Lí Thai Giai làm trại chủ. Vậy mà thế lực địa phương vẫn xuất hiện làm điên đảo triều đại Lí qua những sự kiện không ngờ: Hiện tượng đứa bé lên ba Giác Hoàng của Thanh Hoá dưới dạng thần thánh chen vào tranh chấp làm người kế vị Nhân Tông, suýt đã thắng cuộc nếu không bị ngăn cản bởi thế lực của Sùng Hiền hầu, có sự phụ giúp của nhóm thần thánh Từ Vinh + Từ (Lộ) Ðạo Hạnh, cùng họ Ðỗ từng có người vào Thân Vương ban (tập họp nằm trên tột đỉnh quyền hành) ngay từ đầu triều đại. Cho nên từ khởi đầu (1010), Lí Thái Tổ đã chia làm Kinh, Trại chứ không phải đợi đến Trần Nhân Tông, hành động năm 1256 có vẻ chỉ là một cách điều chỉnh của một triều đại mới vừa lập nên, chưa thấu rõ tình hình thực tại của đất nước.

Dù sao thì sự phân biệt một vùng Trại xa kinh đô, xa "giáo hoá" cũng để lộ ra những dấu vết thành phần chủng tộc riêng biệt xâm nhập vào khung cảnh chung của Ðại Việt qua các nhân vật mang các họ có âm vang Hán Việt để sử gia cứ giản dị xếp lịch sử theo một chiều thô thiển đến mức có thể nói là đã cưỡng đoạt sự thật. Có thể nói trên vùng Trại này, Lê là họ "quý tộc" để người của các tập đoàn Việt nhỏ bé, các tập đoàn dân tộc ngoại biên tìm cách chen vào mong được hiện diện nổi bật. Chúng ta thấy Thập đạo Tướng quân của Ðinh là con nuôi một quan sát sứ Thanh Hoá họ Lê, chứng tỏ không chắc ông là "Lê" Hoàn. Họ Hồ đã là quý tộc của xứ Nghệ vì nhận gốc từ quan chức thời Ngũ Ðại (thế kỉ X), từng làm thông gia với trung ương Lí, vậy mà còn làm con nuôi họ Lê để cải họ, đến lúc làm vua mới trở về họ cũ! Và đến cả người gốc Thái cũng mang họ Lê như Lê Cố trong tập họp của Lê Lợi. (12) Không cần qua dấu vết người bà, người mẹ mang tính phỏng đoán, chính sự việc có lời khấn tiếng Thái trong tế lễ ở Lam Kinh là chứng cớ rõ rệt nhất về thành phần gốc Thái của nhóm Lam Sơn. Nghĩa là qua sự tràn lấn về phía Nam của các chính quyền Hoa Lư, Thăng Long nối tiếp vai trò các chính quyền thuộc địa cũ, những tập đoàn dân tộc khác vẫn chen vào quyền bính, và không phải lúc nào cũng ở vai trò phụ thuộc.


Những người họ Phan, họ Phạm

Với kiến thức chi li của các nhà dân tộc học ngày nay thì chúng ta được biết có nhiều tộc đoàn thiểu số sống trên vùng xưa gọi là "Trại" đó. Và thật là hiếm hoi khi thấy Cựu Ðường Thư ghi: "Khai Nguyên 12 (724), Ðường Huyền Tông tế Thái Sơn có hai ông tả hữu hiền vương phía tây Nhật Nam cà răng, xăm trán..." (13) Ðem người lặn lội từ ngàn dặm xa đến dự lễ lớn tuy chỉ là một cung cách biểu diễn "vật lạ" nhưng cũng là làm tăng oai phong của triều đại. Hẳn ngày xưa diện mạo dân tộc vùng Trại cũng đã phức tạp như vậy (hay phức tạp hơn nữa là khác) tuy ta không có bằng cớ để xác định rằng tộc đoàn nào đó tên gì, đã xuất hiện trong vùng vào lúc nào, chuyển biến ra sao... Phải đành chịu để xét các tộc đoàn lớn bao trùm các tộc đoàn nhỏ, những tộc đoàn mà sử quan gọi chung là "Man" khi không phân biệt rõ ràng để chúng ta bây giờ cũng mù tịt, đôi khi đoán định được là nhờ những chi tiết thêm vào, ví dụ ghép với tập đoàn Thái cũng lại lấn át ở vùng Trại không dịu nhẹ tí nào. Kiến thức thành phần nhân chủng và sinh hoạt xã hội ở đây lộ ra chút sáng sủa thêm khi có một tập đoàn thiểu số lên làm vua nước Việt, từ đó những tập đoàn yếu thế còn lại không phải chỉ là "Man" mà là "Mang" (chữ Hán) để ta chuyển ra "Mường" chỉ tập họp người, vùng cai trị của lãnh chúa nhỏ, và mở hiểu biết đến hệ thống liên khu vực như Bồn Man/"Mọi Chum", Ai Lao, Lão Qua, chuyển qua chữ viết của tiếng nói gọn ghẽ là "Lào".

Ngoài nhóm người đồng bằng, nhóm miền núi Thanh Hoá (vùng Lạc Thủy bây giờ) được ghi nhận chống đối dữ dằn nhất, là Man Cử Long. Cử Long mạnh khiến Ðinh Toàn chết khi cùng đi đánh với Lê Hoàn (1001). Năm 1011 họ bị Lí Thái Tổ "đốt bộ lạc, bắt kẻ đầu sỏ" đánh tan "bọn giặc hung hăng dữ tợn" hai triều Ðinh Lê không trị nổi đó. Sử quan Nguyễn cho họ mang tên sắc tộc Mường có lẽ là nhìn vào thành phần dân cư đương thời, không khác ngày nay. Nhưng Cử Long không phải chỉ ở trên rừng, năm 1005 họ tràn xuống đến tận phía biển, cửa Thần Phù (Ninh Bình) sau này, khiến Long Ðĩnh phải bỏ việc giành ngôi với anh em, quay về đánh giặc. Họ là thành phần Mường thuần tuý hay chịu sự đùn đẩy lấn chiếm của tập đoàn Thái phía sau, đã thấy xung đột với Lí trong thế kỉ này với tên Ai Lao rõ rệt (1048) hay tên Ngưu Hống ("Rắn hổ mang", người Thái Ðen, 1067)? Dù sao thì luồn lọt được qua các cuộc chiến cũng có những bộ phận thủ lĩnh địa phương tách rời tập đoàn chính của mình để mang họ Hán Việt, phục vụ chính quyền Việt, trôi nổi theo tình thế giúp họ thích ứng được hay không của nơi quy tụ mới. Ðó là những người mang họ Phan, họ Phạm.

Về họ Phan, ta chú ý tới Phan Kiệt nổi bật trong vụ tranh chấp quyền bính cuối Trần, và Phan Liêu mà hành vi chuyển đổi phức tạp trong cuộc kháng chiến chống Minh đã gây nên cuộc tranh cãi về tinh thần ái quốc của các sử gia trong nước hồi gần đây. Thật ra, họ Phan trong sử Việt có nguyên nhân như đã nói, là bởi quan niệm người đương thời nghĩ rằng nước Chiêm Thành ở về phía tây nước mình nên gọi: "phiên" (XYZ), và xác định đó trở thành họ trong khung chuyển tiếp văn hoá Hán Việt, dễ nối kết với họ Phan có sẵn, trùng âm. Ðáng lẽ phải gọi là "phiên" Lân, "phiên" Cụ những người liên hệ với Trần Tự Khánh, "phiên" Ma Lôi, tướng của Nguyễn Nộn (1229)...

Cho nên các tên Phan Kiệt, Phan Liêu có vẻ là gốc Chàm nhưng không thuộc loại con cháu tù binh mà là của các tông tộc chủ vùng địa phương phía nam được triều đình Thăng Long dung dưỡng để cai trị dân trên vùng đất mới sáp nhập theo kiểu "dĩ di trị di". Một bằng chứng chỉ là dấu vết thần tích nhưng cũng cho ta thấy di tộc người Chàm vùng châu Diễn xưa cũng có thể mang họ Phan: Ðền Bạch Mã ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An được cho là thờ ông Phan Ðà (ông "phiên" lớn ung dung, ngạo nghễ?) có công chống quân Minh. (14) Thế mà ta biết thần Bạch Mã có gốc là con ngựa Balaha của truyện Tiền Thân Phật (ở đây được chứng minh trong nội dung tờ sắc Gia Long 1810 lưu giữ trong đền), nghĩa là ông thần Bạch Mã kia đã được dân chúng địa phương nhìn ra là một ông thần Chàm, mới cho mang họ Phan! Theo lối nhìn thân/sơ, trong/ngoài từ Thăng Long, ta thấy những người này đã bám sát với dân Ðại Việt hơn là với gốc cũ bởi vì không những chứng tỏ nơi các tên đơn âm cụt ngủn kia mà còn vì thấy sử quan ghi tên các người Chàm khác, phân biệt dài dòng với họ Chế, họ Trà.., với các họ mới được ban phát như Kim Trung Liệt cho Bố Ðông, Ðinh Ðại Trung, Ðinh X cho Chế Ða Biệt, Mộ Hoa Từ Ca Diệp (1397). Tuy nhiên tính chất "thổ hào" không-Việt vẫn hiện rõ trong cách xử trí của các chính quyền trên cao. Phan Liêu và cha là Phan Quý Hựu từ Hồ qua Hậu Trần đến Minh (hàng năm 1412) đều giữ chức ở Nghệ An, bao trùm vùng quê gốc Thạch Bàn, Hà Tĩnh (ngày nay) của họ. Anh họ Liêu là Phan Kiệt được Minh cho coi châu Trấn Man vốn là hương Tinh Cương/ phủ Long Hưng, đất gốc của họ Trần, nơi chôn ba ông vua đầu tiên và ông Thượng hoàng Trần Thừa chưa từng làm vua, Minh cho cai trị theo kiểu lấy "man" này trị "man" nọ. Lê Lợi trên vùng cao cũng được Minh cho làm tuần kiểm Nga Lạc dưới vùng biển. Chúng ta sẽ còn thấy điều này xảy ra với các nhân vật khác.

Nhân vật Phan Mãnh xuất hiện dưới thời Chế Bồng Nga tràn ra phía Bắc, lúc "Tân Bình, Thuận Hoá phần nhiều làm phản theo Chiêm Thành... chỉ có Phan Mãnh và Phạm Căng đem dân chúng quy thuận. Mãnh là người can đảm, mưu lược dò biết được nhiều tình hình của giặc, đánh quân bại trận chạy qua. Thượng hoàng (Nghệ Tông) thưởng cho rất hậu, cho chỉ huy quân Thánh Dực ở Tân Bình và Thuận Hoá", nghĩa là coi quân trung ương ở địa phương phía cực nam này. Hình như đây là nhân vật thiểu số cao cấp nhất trong chính quyền cuối Trần, địa vị cao đủ để có tham vọng mon men vào tranh chấp phe phái đương thời nhưng bị thất bại (1391), danh vọng chỉ kéo dài khoảng một năm ngắn ngủi mà thôi. Ðiều đáng chú ý là Phan Mãnh xuất hiện đồng thời với Phạm Căng mà ta biết nơi khác được ghi là Phạm Thế Căng khiến cho gốc Chàm mà ta phỏng đoán lại có lây lan đến dòng Thái trong vùng. Hay một dòng dân tộc khuất lấp nào khác, Bru, Chứt... chẳng hạn. Vì ta có chứng cớ ở Lê Quý Ðôn. Với thời đại của chúa Nguyễn có tiếp xúc chi tiết hơn nên ông biết người Sách ở phía tây Quảng Bình cũng ghi các tên "phiên" Triển, "phiên" Ðà... trên giấy tờ nhà nước với chữ Phan, (15) là căn cứ để thêm một họ Phan thành hình ở Ðàng Trong, gần như họ Ðinh phía tây Quảng Ngãi, không cần phải là người Mường phía Bắc di cư vào.

Phan Liêu chống Minh làm lụy đến một người gốc Thái vùng Kinh là Lộ Văn Luật, người trốn sang Lào gây mâu thuẫn giữa Lào và Lê Lợi như sử quan nói. Phan Liêu trốn Minh trong vùng Ngọc Ma, phía tây Hà Tĩnh ngày nay có thể là liên lạc với Cam Môn, Cam Cát trên đất Trung Lào, nên tồn tại được trong các năm 1419-21 trước khi nhập vào quân Lam Sơn. Sự liên kết đó giữa các nhóm Chàm Thái nhỏ bé trên khu đất thuộc lãnh quyền của vua Việt, qua thế kỉ XVI, sẽ có thêm một bằng chứng từ Trịnh Kiểm và người bạn sinh tử của ông tên Vũ Thì An. Tên đó thoáng qua thì giống như sử quan Vũ Quỳnh, sủng thần Ngô Thì Nhậm của Quang Trung, nhưng chữ "thì" kia đã biến mất hẳn trong tên một người con của ông: Vũ Ðình Tùng (rất "Việt"!) lại xuất hiện ở tên một người khác: Vũ Thì Lương. Chữ Thì đó có phần chắc chắn là rơi rớt của gốc Sri cũ, bởi vì người vợ Vũ Thì An, từ tư thế dòng nữ nguyên gốc, vẫn còn giữ dấu vết tông tộc của mình: Phan Thị Man. (16)

Họ Phạm đã có mặt phía bắc, vùng hạ du với các sứ quân, các thổ hào trong tranh chấp Lí Trần mà có lẽ rơi rớt nổi bật là Phạm Ngũ Lão, không phải anh đan sọt giữa đường như truyền thuyết trong truyện của Phạm Ðình Hổ đầu thế kỉ XIX. (17) Nhưng như đã thấy, Phạm Thế Căng của vùng Trại rõ ràng thuộc dạng khác. Ông ta được ghi là "thổ hào", không những xuất hiện đồng thời với Phan Mãnh (1390) mà may mắn (?) còn sống dài hơi hơn trong sự tranh chấp hỗn loạn giữa các thế lực Hồ, Hậu Trần, Minh ở vùng đuôi Ðại Việt này.

Ở đây lại thêm ông thổ hào Ðặng Tất lưu danh nặng kí trong sử sách một phần có lẽ vì ông con Ðặng Dung làm thơ, gần gũi các ông sử quan hơn với các tay võ biền khác. Vớí họ Ðặng thì ta chỉ có thể coi là một thổ hào ở đồng bằng nhưng nếu nhìn theo gốc gác quan tước và cách ứng xử tom góp quyền lực khi gặp tình thế thuận lợi của ông thì thấy vẫn không xa dấu vết thiểu số một phần nào đó. Ông là "thổ quan" Ðại tri châu Thăng Hoa (Quảng Nam) của Hồ, "châu" là đơn vị ki mi, bên lề đất nước, trong lúc nhân vật phù trợ Hậu Trần, cùng chung kết cục bi đát như ông là Nguyễn Cảnh Chân thì mang chức An phủ sứ, nghĩa là quan của triều đình phái đến. Trong thời gian tranh chấp quyền hành: quân Minh diệt họ Hồ, người Chiêm lấn ra đòi lại đất cũ, Ðặng Tất giành đất Thuận Hoá với quan lại triều đình, chịu hàng, giao nạp quan chức trung ương cho Minh, được chức tri phủ châu Hoá. Giản Ðịnh Ðế nổi lên (4âl. 1407), Tất theo về, tiến lùi chống đánh Trương Phụ trên khu vực Phạm Thế Căng đang chịu chức quan nhà Minh. Cho nên Căng làm tri phủ Nghệ An, phải lùi về Tân Bình trước thế lực của Giản Ðịnh, rồi bị ép dưới đồng bằng nên lên núi xưng làm Duệ Vũ Ðại Vương, lập triều đình riêng. Tất tăng uy thế vì giết được Căng, liền phô bày quyền hành mà không đề phòng tính chất phức tạp của một trung ương xa lạ với ông, nên bị giết không theo cung cách của chiến trường: vua bóp cổ chết. Cả hai cái chết khác nhau cũng chứng tỏ Ðặng Tất "ngờ nghệch" hơn vì Nguyễn Cảnh Chân, ông quan của triều đình, quen thuộc cung cách ở triều môn nên đã bỏ chạy được lên bờ rồi mới bị giết. Và sử quan quen với lối mòn kinh sách, cứ chê Giản Ðịnh nghe lời nịnh thần giết người trung lương mà không thấy ra việc ông ta phải đối phó với những quyền bính của tình thế mới muốn lật đổ mình.

Không được chỉ định là "thổ hào" nhưng phủ Lâm Bình đã có quan là Phạm A Song (1372). Có thể liên hệ họ Phạm này với tộc Lê mà khởi phát từ địa phương thành quốc chủ khiến dễ thấy nguồn gốc tộc loại hơn. Vợ Lê Lợi, người sinh ra Thái Tông mang họ Phạm, mẹ Tư Tề (bị truất phế) họ Trịnh. Mẹ Lê Lợi lại họ Trịnh,` tộc Thái, cả một dãy liên hệ hôn nhân cho thấy dấu vết tộc Thái trong vùng. Tranh chấp ruộng đất với Lê Ngân, lây lan đến việc chống đối với Lê Lợi cũng là một người họ Phạm: Phạm Mấn. Ðã có 4 người họ Phạm trong nhóm khởi nghĩa Lê Lợi thuộc về một tông tộc cách Lam Sơn chỉ 5 cây số. (18) Tuy nhiên có một dấu vết bia đá và gia phả cho phép suy đoán đúng về gốc gác sắc tộc của một họ Phạm công thần của Lê Lợi, tuy người phát hiện trình bày vụng về khiến gây nên thắc mắc. Bia đá dựng đời Duy Tân (1907-1916) nói về "họ Phạm là một họ lớn... ở miền núi Thanh Hoá, có vị Thượng tướng quân Khằm Ban (tức là Phạm Ban)... tham gia khởi nghĩa Lam Sơn..." Người điều tra không dịch sát thành thử không biết hai tên được ghép cho một người kia có ở ngay chính trong bia không. Có phải chữ khằm kia đã viết thành chữ nôm, ví dụ là "kham" không? Tuy nhiên thấy gia phả giữ lại họ Phạm (người con tên Phạm Ngọc Chúc, với 2 đạo sắc 1576) còn địa điểm dựng bia là ở chòm/bản Khằm, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hoá, Thanh Hoá, nên ta có thể liên kết Khằm và Phạm làm một. (19)

Lấy tên đơn vị cư trú, hành chính làm họ cũng là điều thường thấy như ở trường hợp họ Trịnh sẽ nói sau. Ở đây, với âm đọc khằm, ta cũng nhận ra hai khu vực lớn trên đất Lào viết là Khammon, Khamcat hay Cam Môn, Cam Cat trên bản đồ. Và hẳn từ đó đã chuyển qua họ Cầm xuất hiện trong thời gian Lê Lợi chống quân Minh, gây xung đột hay liên hệ đến các thủ lãnh Thái trong vùng như Cầm Bành tri phủ châu Trà Lân, Cầm Lạn quản lí Quỳ Châu, hay xa hơn với Cầm Quý, người được gọi là "tri phủ châu Ngọc Ma" như của đất Việt mà có dư 6000 quân giúp Lê Lợi (1425), mong đưa nhân vật Trần Cảo của mình lên làm vua khi thành công... Như thế có vẻ là ta đã giải quyết vấn đề Phạm Thế Căng, có thể của cả Phạm A Song, về nguồn gốc Thái đã lấn sâu xuống vùng dân Việt đồng bằng, mang họ Phạm và tham gia vào những biến loạn đáng lẽ chỉ liên hệ riêng cho các dòng Trần, Hồ với thần tử của họ mà thôi.


Những người họ Trịnh, họ Hoàng và cuối đường "xuống đồng"

Trong Sử Việt, đọc vài quyển chúng tôi đã cho thấy họ Trịnh là chuyển từ tên chung chỉ đơn vị tập họp trung tâm của một "mường" người Thái: chiềng. Chúng ta cũng đã nói ở trước về việc lấy tên khu vực để dùng làm họ chung của một nhóm người. Dấu hiệu còn thấy ngày nay, tất nhiên có xê xích, là việc người Khmer vùng tây Nam Bộ lấy chữ đầu của tên làng làm họ: họ Dương từ làng Dương Hoà, họ Thuận từ làng Thuận Yên... (20) khi không còn một ông vua Nguyễn nào ban cho các họ Sơn, Thạch... nữa. Những biến cố được chính sử ghi chép cho ta thấy người ta đã dùng chữ "trịnh" để chỉ một Chiềng. Ví dụ chuyện năm 1337, Minh Tông đánh Ngưu Hống đã tiến quân vào trại Trịnh Kì giết tù trưởng Xa Phần nghĩa là đánh vào một chiềng có âm chuyển sang (Hán Việt là) Kì, tên chung "trại" chỉ là của Trần dành cho một đơn vị dân cư người "man". Sau này năm 1424, cũng thấy Lê Lợi đánh vào một chiềng khác ở châu Trà Lân của Cầm Bành có tên Trịnh Sơn, ngày nay còn tên Kẻ Trịnh, mất hẳn tên chính của trung tâm mường nọ. Vấn đề đặt ra là họ Trịnh là tự nhận hay chính do người ngoài nhìn vào mà gán ghép? Phức tạp là tộc Thái đã giao tiếp với người tộc Hán từ lâu nên ta đã thấy xuất hiện những họ Trịnh trong thời Bắc thuộc, do đó mới có người họ Trịnh ngày nay muốn lấy làm bằng cớ để kéo gốc mình về xa đời hơn dòng Nguyễn Hữu được sửa gia phả kia. Cho nên đã có trường hợp họ Trịnh vững vàng truyền dòng như các người họ Trịnh theo phò Lê Lợi. Tuy nhiên trong chuyện nhà sư áo trắng để mả cho cha Lê Lợi thì họ Trịnh ông ta mang có vẻ chỉ là một cách gọi biểu diễn tính cách tộc Thái của ông ta mà thôi.

Họ Hoàng ở vùng Trại thì càng khuất lấp hơn. Các họ Hoàng giao tiếp với Lí Trần phía vùng Kinh không hẳn phải là thuộc tộc Thái. Nhưng trên vùng Trại thì nổi bật nhất là những người họ Hoàng thông gia với dòng Trịnh Kiểm đến 4 đời, được coi là cánh tay yểm trợ đắc lực cho họ Trịnh lên ngôi Chúa, và tung hoành trong tập họp hoạn quan của Phủ Chúa. Tuy nhiên đó là việc về sau, của thế kỉ XVI. Họ Trịnh nổi lên với sự xuất hiện của Lê Lợi trên chính trường, đã là muộn trên hành trình tiến về đông mà họ Hoàng ở đây còn muộn hơn một bậc nữa.

Tóm lại trong tiến trình đi về đông, xuống đồng bằng trên vùng Trại, nhóm Thái vì xa nơi xuất phát nên hiện diện ít hơn nhóm Chàm cố cựu tại chỗ phát triển lên, hay tự tái định cư khi chính quyền kềm kẹp mình (Lí, Trần) suy sụp phải buông thả. Ðầu thế kỉ XIV, người Thái còn ở trên vùng biên gần đồng bằng nơi đã tuỳ thuộc vào chính quyền Việt, như trường hợp họ Trịnh thông gia với ông cố Lê Lợi, người mở đường cho Lê Lợi (hay cha ông) nhận chức phụ đạo của Trần. Trên căn bản đó, các họ Trịnh khác sẽ là nòng cốt cho đội quân Lam Sơn ở thế kỉ sau nhưng những người chuyển hóa nhanh hơn thì đã tham dự vào biến động Trần-Hồ-Minh thuộc như trường hợp Phạm Thế Căng. Hành động đơn độc, họ phải chịu thất bại trong tranh chấp nhưng khi phối hợp được với các lực lượng trung châu, bán sơn địa khác họ sẽ nổi lên trong triều chính độc lập mới, rồi lại sẽ có căn bản để lên làm An Nam Phó Quốc vương (như Minh đã phong cho Trịnh Tráng năm 1651), nắm thực quyền trong tay, giữ nền chính thống Ðại Việt mà người sau vẫn không ngờ đến gốc gác khác biệt với nơi họ ngự trị hơn hai thế kỉ.


Tạ Chí Đại Trường

Tết, 17 Hai 2007


Chú thích:

(1) PGS. TS Lê Trung Hoa, Họ và tên người Việt Nam, Nxb. Khoa Học Xã Hội 2005.

(2) Ðào Duy Anh, Chữ nôm: nguồn gốc - cấu tạo - diễn biến, Nxb. Khoa Học Xã Hội 1975, tr. 14 về bia chùa Báo Ân.

(3) Nxb. Thanh Niên 2003, tr. 253-254.

(4) Nguyễn Duy Hinh, Văn minh Lạc Việt, Nxb. Văn Hoá Thông Tin 2004, tr. 439-447; Lê Trung Hoa, sđd, tr. 80. Về tục Phụ tử liên danh trong tập họp người Khmer ở Nam Bộ, xin xem TS Ðinh Văn Liên, "Tìm hiểu họ và tên của người Khmer ở Nam Bộ" trong Nam Bộ, Dân tộc và tôn giáo của Nxb. Khoa học Xã hội 2005, trang 92. Tác giả phân biệt "Ngày trước người Khmer ở Nam Bộ không có họ như người Việt, mà theo nguyên tắc lấy tên đặt (làm) họ, (theo) phụ hệ và liên danh với cha" cho thấy rõ là từ gốc Kamphuchia còn được nhận ra ở Nam Bộ.

(5) Lê Trung Hoa, sđd, tr. 33, dẫn Nguyễn Bạt Tuỵ.

(6) Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố, Ðại Nam dật sử, Sử ta so với sử Tàu, Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam xb. 1997, tr. 121.

(7) Lê Sơn, Nguyễn Hữu Quý sưu tầm, chú thích, Nxb. Tổng Hợp Tp. Hồ Chí Minh xb. 2003. Gia phả của một người có tổ tiên "cùng làng" với chúa Nguyễn, phò chúa, đến lúc chúa lên ngôi vua, vua mất ngôi qua tay ông Khâm sứ Pháp, con cháu mới xin cho coi là cùng họ tôn thất (1918), tất nhiên bị Tôn Nhơn Phủ gạt ra, lại cứ viết gia phả mới (1941), và kì kèo để được chấp thuận (?). Ðến đây, thấy đặt ông tổ Nguyễn Kim vào dòng phù trợ cơ nghiệp trung hưng cho họ Lê vẫn chưa đủ "xưa" nên họ lại lôi qua ông đại công thần Nguyễn Trãi, mà quên ông Nguyễn Phi Khanh, lúc nhớ ra vội chêm vào sách. Hình như kiến thức từ An Nam/ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim khiến họ không biết đến chuyện Toàn thư nhắc việc Lê Thánh Tông phong chức cho Anh Vũ, người con thoát cảnh bị tru di tam tộc (1464). Ta không biết họ lấy đâu ra ông Nguyễn Long, con Nguyễn Trãi, không những thoát nạn nhà mà còn leo lên đến chức Thái sư, hẳn là cũng trong triều Lê! Chưa đủ, lại phải chắp nối thêm đến ông Nguyễn Bặc của đời Ðinh! Qua thời Nguyễn mất ngôi, Ngô (Ðình Diệm) ở gần đó "lên", thấy có cơ viết lại lịch sử (1956) người ta liền lắp thật nhiều người họ Nguyễn vào, phong chức tước, nối kết cho liên tục, chen ông Nguyễn Nộn có thật để lấp khoảng trống lớn từ Ðinh tới Hậu Lê (Nguyễn Trãi). Tiếc cho ông sửa gia phả kia, là chưa ai nói đến quan chức đời Hùng Vương đã có họ Nguyễn.

Chúng tôi nhớ hình như khoảng những năm 80 của thế kỉ XX, có tác giả nữ (Thư Hiên...), con cháu Nguyễn Hữu Cảnh đã viết tiểu sử danh nhân này theo cách kéo dài ông cha lên đến thời Nguyễn Bặc của quyển gia phả này. Chúng tôi không tìm mua được quyển Nguyễn Phúc tộc gia phả của Nxb. Thuận Hoá 1995.

Một trường hợp sửa gia phả xưa hơn (có lẽ vào năm 1728) là ở quyển Ngô tộc gia phả (Lê Huy Trâm, "Lê Thánh Tông và quyển gia phả họ Ngô ở Ðộng Bàng Thanh Hoá" trong Viện Văn Học, Hoàng Ðế Lê Thánh Tông: Nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, Nhà thơ lớn, Nxb. Khoa Học Xã Hội 1998, tr. 53-66.) Gia phả ghi rất thật về vài thế hệ trước Ngô Từ, ông ngoại Thánh Tông: nghèo, có lẽ là nô nhà chùa, chết xác vứt ngoài rừng cho chim rỉa thú ăn, gọi tưng là "thiên táng". Biến động cuối Trần, Minh thuộc khiến họ thoát cảnh nô nhà chùa nhưng lại về làm đầy tớ nhà Lê Lợi, được bà chủ gả con gái cho các dòng đầy tớ khác: Ðinh Liệt, Ðinh Lễ, rồi thăng tiến theo danh vọng của chủ mà thành ông ngoại, cha của ông vua được coi là vẻ vang nhất trong lịch sử nước Việt. Và do đó ta mới hiểu tại sao cậu bé Tư Thành (Thánh Tông) dễ dàng ở vị thế không được sinh bên trong cung! Thế mà với quyển gia phả 1728 thì các ông Tổ của họ có tên là Ngô Mân, Ngô Quyền, và vì họ Ngô có người lập thế phân tranh Tam Quốc bên Tàu, nên kéo được xa đến đời Sĩ Nhiếp!

(8) Nxb. Khoa học Xã Hội 1987, tr. 46. Ðoán định tác giả là Bùi Dương Lịch, Hoàng giáp 1787.

(9) Bản dịch của Ngô Tất Tố, Cơ sở Tự Do tái bản 1958, tr. 53; Trên đất Nghĩa Bình, Phan Huy Lê, Phan Ðại Doãn, Vũ Minh Giang, Nguyễn Quang Ngọc sưu tầm, khảo sát, biên soạn, Sở Văn Hoá Thông Tin Nghĩa Bình xb. 1988, tr. 11.

(10) Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 440. Trong vùng Tây Sơn còn có các tên đồng Hươu, đồng Cây Cầy (Thị Dã của Thực lục)...

(11) Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, Nhà sách Khai Trí xb. 1960, tr. 47.

(12) Phan Huy Lê và Phan Ðại Doãn, Khởi nghĩa Lam Sơn, Nxb. Khoa Học Xã Hội 1977, tr. 138.

(13). Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 157.

(14) Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa Học 1964, tr. 227, 228.

(15) Ðậu Bá Trà, "Chùa Bạch Mã (Nghệ An); "Về tấm biển gỗ ở đền Bạch Mã (Nghệ An)" trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2003, Nxb. Khoa Học Xã Hội 2004, tr. 476-478, 641-642.

(16) La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1998), Hữu Ngọc và Nguyễn Ðức Hiền sưu tập, biên soạn, tập II, "Trước tác (Phần II: Lịch sử)", Nxb. Giáo dục 1998, tr. 658.

(17) Phạm Ðình Hổ, Nguyễn Án, Tang thương ngẫu lục, Nxb. Văn Học 2001, tr. 109.

(18) Phan Huy Lê, Phan Ðại Doãn, sđd, tr. 136.

(19) Nguyễn Ðăng Ngân, "Bia khai quốc công thần thời Lê ở Thanh Hoá" trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2002, Nxb, Khoa Học Xã Hội 2003, tr. 621-622.

(20) Lê Trung Hoa, sđd, tr. 35.


* Các sự kiện không dẫn chứng riêng đều lấy ở Ðại Việt sử lược (bản dịch Trần Quốc Vượng 1960, tái bản 2005), và Toàn thư (bản dịch 1993.)

Nguồn tin: Hợp Lưu

Bổ sung thông tin: Dân tộc Thái cũng có người họ Phạm


Bổ sung danh sách các dân tộc có dòng họ Phạm

Người đi tìm nguồn cội (01/02/2007-14:37)

Ông Phạm Hồng Nêu bên những sắc phong cổ. Ảnh: Ngân Hà
(THO)- Từ khi làm thầy giáo cho đến khi làm Phó chủ tịch UBND huyện Quan Hoá (1989 - 2000), rồi nghỉ hưu, ông Phạm Hồng Nêu, dân tộc Thái, ở thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hoá (Thanh Hoá) đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của địa phương, đặc biệt là trong việc sưu tầm, lưu giữ tư liệu về dòng họ Phạm Bá. Ông còn được nhiều người dân tộc Thái quê mình gọi với cái tên thân mật: Người đi tìm nguồn cội.
Trước kia, huyện Quan Hoá nằm trong vùng tạm chiếm của giặc Pháp. Bấy giờ, đền thờ, miếu mạo, nhà cửa bị tàn phá nặng nề. Các di vật như gia phả, sắc phong của các triều đại vua phong tặng cho các anh hùng dân tộc bị thất lạc, mất mát, hư hỏng. Dòng họ Phạm Bá ở đây là một trong những dòng họ lớn của vùng Châu Thượng Thanh Hóa nói riêng và phía Tây bắc Việt Nam nói chung. Khi đang làm Trưởng phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Quan Hoá (năm 1986), ông Nêu đã nghiên cứu và tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp, sự đóng góp của tướng Khằm Ban. Tướng quân Khằm Ban là một tướng lĩnh của nghĩa quân Lam Sơn đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Ông được sắc phong là Thần hoàng làng và là tuyên tổ dòng họ Phạm Bá ở Mường Ca Da- Quan Hóa.

Nơi ông Nêu bắt đầu tìm hiểu là tấm bia ghi công lao của tướng Khằm Ban tại bản Khằm, thị trấn Hồi Xuân. Tấm bia đã bị bào mòn mặt sau, nhưng những hàng chữ mặt trước vẫn còn đọc, dịch được. Tấm bia được xác định có từ năm 1910 (đời vua Duy Tân). Một số người dân địa phương kể lại: Trước đây, tại bia thờ tướng Khằm Ban có chiếc ống gỗ dài, sơn màu đỏ, lưu giữ các tài liệu về vị tướng này.

Sau hơn 10 năm đi tìm hiểu, sưu tầm, năm 1996 ông Nêu đưa ra những chứng cứ, tài liệu có hệ thống về tướng Khằm Ban cho các cơ quan chức năng. Sau đó, ông được sự giúp đỡ của UBND tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Văn hoá- Thông tin, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh, Viện Sử học...cùng bạn bè nhiều nơi hỗ trợ tài liệu lịch sử về nhân vật này. Cũng trong năm đó, UBND tỉnh đã cho xây dựng bia ghi công trạng của vị tướng này ngay ở tấm bia cũ (bản Khằm, thị trấn Hồi Xuân).


Ông Phạm Hồng Nêu bên bia ghi công trạng của tướng Khằm Ban.

Trong quá trình đi tìm nguồn cội của dòng họ, ông Nêu đã sưu tầm được một số sắc phong và tài liệu quan trọng về dòng họ Phạm Bá như: 1 sắc phong của tướng Khằm Ban, 2 sắc phong của Phạm Ngọc Chúc (chức danh Thái uý)- con trai của tướng Khằm Ban và của Phạm Bá Sạn (hậu duệ đời thứ 4 của tướng Khằm Ban)... cùng nhiều quyết định ghi công lao của tướng Khằm Ban và hậu duệ của ông có từ thời Lê, vua Khải Định, Minh Mạng, Tự Đức cho đến triều Bảo Đại (năm 1945). Tại "Hội thảo các dân tộc Tày, Thái đóng góp trong tiến trình trình lịch sử Việt Nam", tổ chức tại Cao Bằng (tháng 7- 2006), sau khi ông Nêu đưa ra một số ý kiến về vai trò lịch sử của tướng Khằm Ban, Giáo sư sử học Phan Huy Lê nhấn mạnh: “Tướng Khằm Ban là một trong những tướng tài của nhà Lê. Đây là vị tướng không chỉ có vai trò, ý nghĩa lịch sử đối với riêng tỉnh Thanh Hoá mà là vị tướng tài của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, về thân thế, sự nghiệp của ông cần phải được tiếp tục nghiên cứu đầy đủ hơn nữa”.

Tuy đã về hưu, nhưng ông Nêu (năm nay 69 tuổi) chưa một ngày nhàn rỗi. Ông vui trong sự bận rộn với công việc của gia đình và xã hội. Nhiều cán bộ huyện Quan Hoá vẫn tìm đến với ông để tham khảo ý kiến về việc xây dựng, phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Ông Hà Mạnh Hùng, Bí thư huyện ủy Quan Hoá cho biết: “Khi còn làm cán bộ, ông Nêu đã từng đi nhiều nơi, tìm hiểu nhiều vấn đề về đời sống của đồng bào. Ông là một cán bộ có nhiều đóng góp đối với sự phát triển nói chung của địa phương, là một trong những người có tầm hiểu biết sâu rộng về vùng đất Quan Hoá này”.

Vào dịp tết cổ truyền, lễ tế tổ dòng họ Phạm Bá diễn ra tại bia ghi công tướng Khằm Ban. Con cháu của dòng họ Phạm Bá không thể quên những đóng góp to lớn của ông Phạm Hồng Nêu trong việc nghiên cứu, sưu tầm và lưu giữ giá trị văn hoá phi vật thể này.

Ngân Hà

Nguồn tin: báo Thanh Hóa

Bài liên quan
Thanh Hóa: một người dân lưu giữ nhiều sắc phong cổ

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2009

Nguồn gốc họ Phạm ở Trung Quốc

Thời xa xưa ở Trung Quốc người ta hình thành tên các họ tộc theo vùng đất sinh sống,theo sắc phong và theo họ chủ mà mình thờ. Họ Phạm cũng nằm trong quy luật đó.

Theo "Lộ Sử" và "Nguyên Hà Tính Toản", Lưu Ly thuộc dòng họ Đường Đế Nghiêu lập ra nước Đường Đỗ Thị (nay ở tỉnh Sơn Tây,TQ). Vào cuối đời Tây Chu,TQ. Chu Tuyên Vương tin vào những điều huyền hoặc, thượng đại phu là Đỗ Bá không làm theo bị Tuyên Vương giết. Con là Đỗ Thấp Thúc trốn sang nước Tấn. Người đời sau thương Đỗ Bá là người trung lập miếu thờ gọi là "Miếu Đỗ Chủ" cũng gọi là "Hữu Tướng Quân Miếu".
Thấp Thúc trốn sang nước Tấn làm quan Sĩ Sư nên đổi từ họ Đỗ ra họ Sĩ (đó là vào thời vua Chu U Vương 781-771 TCN) .

Đến đời chắt của Thấp Thúc là Sĩ Hội,(Sĩ Hội là người tín nghĩa, ôn hòa mà không nhu nhược, uy nghiêm mà không dữ tợn). Ông có công dẹp những nước thuộc giống Xích Địch nên được vua nhà Chu phẩm phục chức Thượng đại khanh lại kiêm chức Thái phó và được phong ở đất Phạm, nên lại đổi ra họ Phạm. Sĩ Hội là ông tổ của họ Phạm ở Trung Quốc người đời thường gọi ông là Phạm Mạnh, con là Phạm Mang cháu là Phạm Phường (đó là vào thời vua Chu Định Vương 607-571 TCN).

Vào những thời gian sau đó quyền lực nước Tấn rơi vào tay một số họ, các họ tiêu diệt lẫn nhau để tranh dành quyền lực cuối cùng nước Tấn bị ba họ Hàn-Triệu-Ngụy chia làm ba nước, các sử gia gọi là Tam Tấn.

Khi đó, họ Triệu lấy danh nghĩa vua Tấn kết hợp với họ Ngụy và họ Hàn đánh họ Phạm và họ Trung. Phạm Cát Xạ và Trung Hàng Di phải chạy đến Triều Ca (kinh đô nhà Thương) cố thủ. Triều Ca vỡ những người con cháu họ Phạm phải chạy sang nước Tề. Từ đó con cháu họ Pham lưu lạc khắp mọi nơi.

PHẠM DUY TRƯỞNG
email: cacanhsontay@yahoo.com

-------------
Xem thêm về các dòng họ gốc vua Nghiêu Thuấn

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2009

ĐI TÌM MỘT DÒNG HỌ PHẠM LÀ HẬU DUỆ ĐIỆN SOÁI PHẠM NGŨ LÃO VỀ VÂN HỘI CÁCH NAY TRÊN 600 NĂM

Hiện nay Ban liên lạc hậu duệ Điện soái Phạm Ngũ Lão đã thống kê có trên 30 dòng họ nhận là hậu duệ của vị danh tướng này. Tuy nhiên có một dòng họ Phạm danh gia về Vân Hội cách nay trên 600 năm được gia đình Đại tướng Văn Tiến Dũng xác nhận là có Bà Thủy tổ là người họ Phạm thuộc dòng họ này thì đến nay chưa có thông tin liên hệ.
Làm sao có thể tìm ra dòng họ này?

A. Thông tin về dòng họ Phạm là hậu duệ Điện soái Phạm Ngũ Lão về Vân Hội cách nay trên 600 năm

Theo ghi chép của Mạnh Việt ra ba số liên tiếp từ ngày 11-13 tháng 5 năm 2008: “Đại tướng Văn Tiến Dũng và hơn 3.000 ngày tìm nguồn cội”.
TP- Mới đây, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật của Đại tướng Văn Tiến Dũng (02/5/1917), phu nhân của Đại tướng – cụ bà Nguyễn Thị Kỳ đã gọi điện bảo tôi đến xem nhiều tài liệu, bút tích của Đại tướng mà cụ vừa tìm thấy, mà theo cụ có nhiều cái hay, cái mới.

Bài 1
Bài 2
Bài 3

Năm 1376, ông Phạm Đại công (có thể là nhánh trưởng của hậu duệ Điện soái, là con cháu người con Điện soái được làm quan năm 1318 như ghi trong Đại Việt Sử ký), cháu 5 đời của Phạm Ngũ Lão (cần xem lại đời, có thể 5 đời là chưa hợp lý) về Vân Hội, phủ Hoài Đức (nay là Tân Hội, Đan Phượng) để phòng sự tiêu diệt vây cánh thân cận nhà Trần.

Phạm Thị Duyên-con gái Phạm Đại công lấy Văn Hải Thanh năm 1379 sinh ra Văn Dĩ Thành (1380-1416) về sau có hậu duệ là đại tướng Văn Tiến Dũng.

B. Thông tin về dòng họ Phạm Đình ở Thượng Hội
Xem trên trang web họ Phạm Việt Nam

Trong giới thiệu về các dòng họ Phạm ở cuốn “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” tập 2 in năm 2007, mục 24 có dòng họ Phạm Đình ở Thượng Hội, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng được nhiều người quan tâm. Người đọc rất chú ý tới một số thông tin của dòng họ Phạm Đình ở Thượng Hội bởi theo giới thiệu thì đây là dòng họ có xuất xứ ngay làng của Danh tướng Phạm Ngũ Lão (1255-1320) và đã phát triển 1000 năm.
Qua các thông tin về họ Phạm Đình ở Thượng Hội chúng tôi nhận thấy có một số điểm còn chưa thể giải thích thấu đáo, xin nêu lên mong có ai đó giúp làm sáng tỏ đôi điều:

1. Về quy mô dòng họ: Dòng họ Phạm Đình ở Thượng Hội phát triển hơn 1000 năm, có khoảng 6 đời đầu (tương đương 200 năm) độc đinh, sau đó phát triển cực thịch với tam chi cửu phái. Dòng họ có 800 trăm năm phát triển mạnh, chúng ta dễ dàng nhận thấy nếu đúng thì đây phải là dòng họ cực lớn. Tạm ví dụ:
- Dòng họ Kính Chủ (phát triển gần 800 năm), dòng họ này đã có rất nhiều chi nhánh kết nối. Đây là một dòng họ xếp hàng đầu trong những dòng họ Phạm lớn.
- Trường hợp đặc biệt là dòng họ hậu duệ của Điện soái Phạm Ngũ Lão hiện có đến cả vạn người với thời gian phát triển 750 năm.
- Một dòng họ nhỏ hơn được cho là dòng dõi Điện soái ở Linh Kiệt với hơn 600 năm, gia phả chỉ ghi được nhánh 1 trong 4 người con của Thủy tổ Phạm Thập, con cháu dòng họ này đã phát triển là dòng họ Phạm lớn nhất xứ Nghệ, cũng đã có nhiều nhánh nhận cùng Tổ.
- Ngay địa bàn Hà Nội có 3 dòng họ Phạm ở Bát Tràng, Đôn Thư, Đông Ngạc cùng phát triển 600 năm cũng là các dòng họ lớn.
- Nhiều dòng họ Phạm phát triển từ thời đầu Lê sơ đều có quy mô nghìn đinh, …
Còn tại Tân Hội, dòng họ Phạm Đình tính đến năm 2000 có 409 đinh, một con số khiêm tốn so với chiều dài phát triển 1000 năm. Hiện cũng chưa thấy mấy chi nhánh kết nối với họ Phạm Đình ở Thượng Hội.

2. Về gián đoạn thông tin quá dài: Khoảng dăm bẩy đời đầu các thông tin về các vị thời này nêu khá chi tiết, quả là hiếm có đối với các vị đã sống trước đây hàng chục thế kỷ. Trong giới thiệu giai đoạn này lại thường không thấy nêu tên địa danh cổ từ thời Lý. Tuy nhiên vấn đề khó lý giải là sự dứt gẫy đến gần 800 năm của gia phả không ghi chép được và sau lại được ghi tiếp từ thế kỷ 19. Hiện nay có lẽ việc xác định người đang sống thuộc đời thứ bao nhiêu so với Thủy tổ là khó khăn. Điều đó khiến không ít người thắc mắc.

3. Về vị đỗ đại khoa triều Lý: Hiện nay tư liệu dòng họ Phạm cho thấy số vị đỗ đại khoa thời Lý chỉ đếm trên đầu ngón tay:
- Trạng nguyên Phạm Công Bình
- Thái học sinh Phạm Tử Hư (có thể con ông là Phạm Tử Kiền)
- Thanh tĩnh Đại phu Phạm Sùng?
- …
Do đó dễ nhận thấy có sai sót trong thông tin của họ Phạm Đình đã nêu:
Đời thứ năm của dòng họ Phạm Đình là cụ Phạm Đình Kim, có tên chữ là Hào Phúc, tên hiệu là Phúc Tín. Cụ sinh năm Giáp Thìn (1064), mất ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Tý (1132). Cụ đỗ đại khoa thời vua Lý Thánh Tông (1054-1072) và được bổ làm quan Lãnh công, sau thăng Điện Tiền Hành Khiển. Cụ có ba người con trai (sau này hình thành 3 chi-“Tam chi”) và hai người con gái là: Phạm Đình Trực, Phạm Đình Khang, Phạm Đình Ninh; Phạm Thị Hoà, Phạm Thị Thuận.

Ông Phạm Đình Kim sinh năm 1064, trong khi kết thúc đời vua Lý Thánh Tông vào năm 1072, lúc này ông Phạm Đình Kim mới có 8 tuổi (tám tuổi). Chắc chắn thông tin rất chi tiết in nghiêng ở trên đã bị sai: không thể có một vị 8 tuổi đỗ đại khoa trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.

4. Sự gắn bó với dòng họ Văn: Theo các bài viết trên báo Tiền phong điện tử về việc tìm gốc tổ tiên của Đại tướng Văn Tiến Dũng (đã nêu ở trên) , chúng tôi thấy sự gắn bó giữa họ Phạm và họ Văn ở Thượng Hội. Quả là trong thông tin của họ Phạm Đình có bà tổ họ Văn. Như vậy bà cũng đã sống cách nay hơn 1000 năm. Chúng tôi hỏi thông tin từ người dòng họ Văn ( Ông Văn Tiến Thao ở Hoàng Mai, Quỳnh Lưu, Nghệ An, dự định xây nhà thờ Tổ họ Văn Việt Nam trên đất của ông Thao hiến cho dòng họ.), được cho biết: Họ Văn hiện nay nhiều khả năng có gốc từ một ông tổ, người này về sống ở Hoàng Mai, Nghệ An cách nay khoảng 1000 năm, hiện có mộ tổ ở đây. Các dòng họ Văn ở các tỉnh khác phát triển sau, thời gian 800 năm trở lại. Ở Hà Tây (cũ) có họ Văn mà một vị được gọi là ông Vua áo đen.

C. Thử gắn kết thông tin

Tạm gác chuyện họ Văn ở Hà Tây đã phát triển khoảng 700 năm. Chúng ta thấy rõ là thông tin về xuất xứ của họ Văn ở Thượng Hội sẽ góp phần khẳng định về chiều dài phát triển của họ Phạm Đình.

Xin được nêu ra một vài suy nghĩ bật ra khi đọc bài viết về việc tìm họ của Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đây chỉ là ý kiến nêu lên để hy vọng có một cách giải thích đúng cho sự thật về gốc họ (chỉ một như là chỉ một mẹ thôi), chắc chắn chưa có đủ thông tin để hệ thống lại vấn đề nên có thể chưa hoàn toàn sát thực. Nếu có sai sót xin được đại xá!

Bởi sự trùng hợp về địa điểm cả điểm đi và điểm đến của hai người cùng họ Phạm di cư: đi từ Phù Ủng, huyện Đường Hào đến ở xã Tân Hội, phủ Hoài Đức (mà hiện nay chưa có thông tin về hậu duệ dòng Phạm Đại công, Ban Liên lạc hậu duệ Phạm Ngũ Lão cũng chưa có tin tức về dòng họ này)

- Ông Phạm Đình Nhân (992-1067) sống ngay sau thời ông Phạm Hạp, Phạm Cự Lượng, việc sáng tỏ thông tin của họ Phạm Đình sẽ là thông tin quý cho việc kết nối dòng họ.

- Năm 1014, ông Phạm Đình Nhân lấy vợ họ Văn ở Thượng Hội và lập nghiệp ở đây.

- Năm 1376, sau 362 năm (1376-1014=362 năm) ông Phạm Đại công (có thể là nhánh trưởng của hậu duệ Điện soái, là con cháu người con Điện soái được làm quan năm 1318 như ghi trong Đại Việt Sử ký), cháu 5 đời của Phạm Ngũ Lão (cần xem lại đời, có thể 5 đời là chưa hợp lý) về Vân Hội, phủ Hoài Đức (nay là Tân Hội, Đan Phượng) để phòng sự tiêu diệt vây cánh thân cận nhà Trần.

- Phạm Thị Duyên-con gái Phạm Đại công lấy Văn Hải Thanh năm 1379 sinh ra Văn Dĩ Thành (1380-1416) là Nguyên soái Hắc y (Có trong truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ với tên là Dạ Xoa tướng quân), đứng đầu một lực lượng khởi nghĩa chống quân Minh (1406-1416). Có phải đây chính là ông Vua áo đen như thông tin lưu truyền trong dòng họ Văn? Như vậy có thể con cháu Phạm Đại công cũng tham gia khởi nghĩa.

- Việc ông Phạm Đại công đi lánh nạn đương nhiên phải che mắt thiên hạ, không thể nhận mình là dòng dõi Điện soái Phạm Ngũ Lão. Chắc chắn các vị phải có sách, thượng sách là thay đổi về tung tích. Buộc không được nhận là con cháu Phạm Điện soái. Một cách có thể làm là thay đổi về thời gian xuất hiện nguồn gốc dòng họ, như ghi lại sự ra đời của dòng họ trước khi cụ thân sinh của Điện soái về Phù Ủng vài trăm năm.

- Tạm nêu một giả thiết để quý vị xem xét: Phải chăng ông Phạm Đình Nhân rất gần gũi huyết thống với Phạm Đại công, nhưng để che mắt lực lượng trỗi dậy của Hồ Quý Ly, người nhà Phạm Đại công đã ghi chép lại niên đại sớm hơn vài trăm năm (chỉ nhánh trực hệ, không làm liên lụy đến các chi nhánh khác). Do đó xuất hiện ghi chép về nhiều đời đầu chỉ có độc đinh với thông tin rất chi tiết. Con số 360 năm được chọn bởi nó gần bằng quãng thời gian chênh lệch giữa hai người về Tân Hội (Phạm Đình Nhân về năm 1014, Phạm Đại công về năm 1376) với giả thiết lấy thông tin Phạm Đình Nhân gắn cho Phạm Đại công và lùi thời gian 360 năm. Con số 360 lại bằng đúng 6 x 60, là 6 “lục thập hoa giáp”. Dẫu sao cũng thấy khó giải thích về sai lệch năm theo can chi vì con số chính xác là lệch 362 năm. Nếu giả thiết lấy thông tin về Phạm Đình Nhân gán cho một ông tạm gọi là Phạm Đại lang là bậc cha ông của Phạm Đại công thì con số lệch thời gian nên chọn là 300 năm, như vậy có thể Phạm Đại lang là con của Phạm Ngũ Lão. Thông tin về Phạm Đại lang lúc này như sau: ông sinh 992+300=1292 (lúc đó Phạm Ngũ Lão 37 tuổi), năm 1012+300=1312 đi lính, 1014+300=1314 cưới vợ (không khẳng định lấy bà họ Văn, về Thượng Hội vào năm này), 1018+300=1318 được làm quan như người nêu trong Đại Việt sử ký. Phạm Đại lang mất năm 1067+300=1367. Sau đó 9 năm, Phạm Đại công cùng con cháu về Tân Hội.

- Từ đây cũng thấy Phạm Đại công là cháu 3-4 đời (không phải 5 đời như ghi chép của Mạnh Việt trên báo Tiền phong điện tử) của Phạm Ngũ Lão thì phù hợp hơn vì: Năm 1379 con gái Phạm Đại công đã lấy chồng. Nếu Phạm Thị Duyên là cháu đời 6 của Phạm Ngũ Lão (sinh năm 1255), bà sinh khoảng năm 1360. Trong khoảng 100 năm (1360-1255=105) phát triển 5 đời liên tiếp từ Phạm Ngũ Lão đều lấy vợ và đều có con trai ngay tuổi đôi mươi. Điều này rất hiếm xảy ra và khoảng năm 1275 nhiều khả năng Phạm Ngũ Lão chưa lấy vợ.

Điều mong mỏi của chúng tôi vẫn là mong sao cho ai muốn kết nối đều tìm ra sự thật, chỉ có một nguồn gốc, tìm sai thì thật có lỗi với Tổ tiên. Nhận sai gốc họ thì càng đáng tiếc! Là người trong đại tộc kính mong quý vị chỉ dạy.

Ngày 07.12.2008
Tháp Bút

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009

BLOG DÒNG HỌ - KÊNH THÔNG TIN HỮU ÍCH CHO VIỆC HỌ

Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21 với sự bùng nổ của thông tin. Để có được thông tin hữu ích phải có quá trình thu thập, xử lý. Đối với các dòng họ, giới thiệu thông tin hoạt động đặc biệt là các thông tin kết nối cần được đăng tải tập trung. Một số dòng họ lớn có điều kiện có thể lập trang web, nhưng cũng tốn nhiều công sức. Hiện nay việc dùng blog khá phổ biến cho cá nhân rất thuận lợi và miễn phí. Mỗi dòng họ chỉ cần có một người biết tin học ở bậc phổ thông là có thể quản lý, giới thiệu thông tin về dòng họ mình.

Khi dòng họ có blog sẽ tự quản lý thông tin của mình. Trên trang web của BLL họ Phạm Việt Nam sẽ giới thiệu chung các địa chỉ blog là một cổng thông tin kết nối đến các dòng họ.

Hiện nay việc tìm kiếm thông tin, dùng thư điện tử email và blog đều có thể dùng chung trên Google. Nếu các dòng họ Phạm dùng thống nhất sẽ thuận tiện cho việc chia sẻ dữ liệu và liên kết thông tin với nhau, đặc biệt là dung lượng email, dính kèm file dữ liệu lớn.

Cách làm blog dòng họ:
1. Dùng tài khoản có sẵn hoặc đăng ký mới hộp thư gmail đặc trưng cho dòng họ (theo địa danh, tên vị thủy tổ,…) từ địa chỉ: http://www.gmail.com/
2. Tạo một blog bằng tài khoản gmail từ địa chỉ: http://www.blogspot.com/
3. Thiết kế bố cục blog cho phù hợp với từng dòng họ. Có thể làm nhanh bằng các tải file blog_hp.xml ([1]) theo các bước:
- đăng nhập
- mở cửa sổ giao diện Bố cục,
- kích vào Chỉnh sửa HTML,
- kích nút lệnh Browse chọn địa chỉ file blog_hp.xml
- kích nút lệnh Tải lên
- kích nút lệnh LƯU MẪU
- chỉnh sửa phù hợp theo từng dòng họ theo các giao diện: Phần tử Trang, Kiểu Chữ và màu, Chọn Mẫu Mới
- chỉnh sửa giao diện Cài đặt

Nhập bài đăng từ giao diện Đăng bài, do blog nhập bài tuần tự như nhật ký nên cần chọn nhãn cho phù hợp (Hoạt động dòng họ, Người tiêu biểu, Kết nối, …)

Giới thiệu blog dòng họ lên trang tin điện tử http://www.hophamvietnam.org/ cần gửi thư có chủ đề: giới thiệu blog dòng họ có dính kèm mẫu đăng ký đã điền đủ thông tin đến email: phamdao1940@gmail.com Nhận được thông tin đăng ký rõ ràng, Ban biên tập web sẽ giới thiệu blog.

[1] Dùng email của gmail (tài khoản của blog) gửi thư có chủ đề: blog dòng họ gửi đến email: tulieuhopham@gmail.com để được chia sẻ file blog_hp.xml , mẫu đăng ký giới thiệu blog dòng họ lên http://www.hophamvietnam.org/, và một số bài mẫu về thông tin dòng họ để đăng trên blog.

Tháp Bút

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2009

Giới thiệu tài liệu "Kết nối các dòng họ Phạm ở Việt Nam"

NỘI DUNG ĐƯỢC TUYỂN CHỌN TỪ:
Một số bộ sử cổ giá trị của Việt Nam (xem mục tài liệu tham khảo)
Bộ sách "HỌ PHẠM TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN VIỆT",
Bản tin nội tộc "THÔNG TIN HỌ PHẠM VIỆT NAM",
Trang thông tin điện tử "www.hophamvietnam.org",
và từ các nguồn tư liệu khác

Thống kê hàng trăm dòng họ Phạm trong cả nước
Với mục đích liệt kê nhiều nhất những người mang họ Phạm trong sử sách và các tài liệu cổ để phục vụ việc nghiên cứu kết nối dòng họ.


Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU
I DANH SÁCH CÁC DÒNG HỌ PHẠM VIỆT NAM
1.1. Thông tin về các dòng họ Phạm Việt Nam
1.2. Các chi họ Phạm gốc Mạc
II THÔNG TIN TÓM TẮT VỀ NHỮNG NGƯỜI HỌ PHẠM TRONG SỬ SÁCH
2.1. Một số linh thần họ Phạm
2.2. Những nhân vật họ Phạm có tên trong sử sách Việt Nam
2.2.1. Thời Tiền Lý đến trước thời Lý (Hậu Lý)
2.2.2. Thời Lý
2.2.3. Thời Trần
2.2.4. Thời Hồ, Hậu Trần
2.2.5. Thời Lê sơ-Mạc-Lê Trung hưng
2.2.6. Thời Tây Sơn-Nguyễn
2.2.7. Những người họ Phạm trong bộ sử Đại Nam thực lục
2.2.8. Những người họ Phạm đứng đầu Quân đội
2.3. Một số Hương cống họ Phạm trước thời Tây Sơn
2.4. Các Cử nhân họ Phạm thời Nguyễn
2.5. Những người họ Phạm có tên trong một số tài liệu khác
Tài liệu tham khảo

LỜI NÓI ĐẦU
Với chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, các dòng họ Việt Nam ngày một phát triển. Cùng với sự phát triển ấy, các dòng họ Phạm Việt Nam cũng như nhiều dòng họ khác đều hướng về cội nguồn, tri ân Tổ tiên, tìm hiểu về lịch sử dòng họ mình nhằm “vấn tổ tìm tông” để kết nối dòng họ. Năm 1996, Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó của đông đảo bà con cô bác họ Phạm.

Trải qua 12 năm hoạt động, BLL họ Phạm Việt Nam đã có những bước đi đáng kể như: Đã nghiên cứu kỹ lưỡng về các nhân vật lịch sử, sưu tầm và xuất bản nhiều sách và tài liệu về dòng họ Phạm Việt Nam; Kho tư liệu Gia phả họ Phạm Việt Nam ngày càng phong phú, đã và đang được khai thác hiệu quả; liên lạc được hàng trăm dòng họ Phạm lớn nhỏ trong cả nước;... Cho đến nay, BLL họ Phạm Việt Nam đã tổ chức được 12 Cuộc họp mặt toàn quốc đại biểu các BLL và HĐGT họ Phạm Việt Nam.

Tuy nhiên, những cố gắng đó vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu rất cụ thể khác trong quá trình tìm kiếm thông tin về dòng họ, về các vị tiên tổ của dòng họ, nhằm kết nối dòng họ. Để phục vụ tốt việc tìm kiếm thông tin nhằm kết nối dòng họ và cũng là một bước chuẩn bị cho việc xuất bản chính thức bộ sách “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt”, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tài liệu có tên gọi “Kết nối các dòng họ Phạm ở Việt Nam”.

Nội dung tài liệu này được chia thành hai phần chính:
-Phần thứ nhất: Danh mục các dòng họ Phạm Việt Nam đã liên hệ với BLL họ Phạm Việt Nam. Giới thiệu thông tin kết nối của họ Phạm Đức-Quảng Xá (huyện Thanh Chương, Nghệ An) làm ví dụ để bà con tham khảo khi viết bài để kết nối dòng họ của mình.
-Phần thứ hai: Chủ yếu giới thiệu tóm tắt các nhân vật họ Phạm trong lịch sử từ khi có Nhà nước Vạn Xuân (thế kỷ thứ VI) đến thời nhà Nguyễn. Tư liệu về thời Nguyễn khá đồ sộ nên tài liệu này không thể thống kê các nhân vật họ Phạm đầy đủ giai đoạn cận đại này. Chúng tôi nêu ra cách tìm thông tin như ở tiểu mục 2.2.7 để Quý vị tham khảo.

Trong tài liệu ebook có thêm Phần phụ lục: Một số bài viết bàn về việc kết nối dòng họ, những suy nghĩ nhằm đưa ra những cách kết nối hiệu quả với yêu cầu hàng đầu là đúng sự thật.

Nhằm giúp bà con thuận tiện tra cứu, khi giới thiệu, chúng tôi có dẫn nguồn tài liệu và số trang (sách điện tử ebook).[1] Trong mục 2.2, tên nhân vật in nghiêng đậm, là những người chưa có tên trong bộ sách lưu hành nội tộc được in năm 2007 “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” (hơn 150 người).

Trong quá trình sưu tầm, có thể chúng tôi có một số thiếu sót, sai lầm (như lầm họ Phan với Phạm, có người không phải gốc họ Phạm, một người được ghi theo các tên khác nhau dễ trùng lặp, người họ Phạm nhưng sử sách không ghi họ chỉ có tên hay tước hiệu nên bỏ sót, v...v..., nhất là không thể sưu tầm hết sử sách) vì chúng tôi chưa có điều kiện để xác minh. Mong quý vị thông cảm và lượng thứ.

Chúng tôi cũng mong Quý vị, trong khi đối chiếu, so sánh tài liệu về những nhân vật và dòng họ của mình, thấy có những chỗ không tán thành, hoặc có những chỗ cần phải bổ sung,... thì mong Quý vị thông báo và chỉ dẫn, cung cấp tài liệu cho chúng tôi.
Chúng tôi đề nghị, các dòng họ khi viết giới thiệu về dòng họ mình để tham gia kết nối, nên viết thật súc tích, cụ thể để các dòng họ khác đối chiếu, tạo thuận lợi cho kết nối từ các thông tin hữu ích.

Muốn kết nối, trước hết phải tìm thông tin; trong đó thông tin từ các dòng họ có các tài liệu cổ là vô cùng quan trọng. Chúng tôi đề cao các thông tin chân thực trong các tài liệu cổ như Gia phả, Ngọc phả. Vì các tài liệu này ghi được chi tiết về sự kiện và nhân vật của dòng họ trong khi sử sách không thể ghi rõ được. Xót xa thay!... nhiều tài liệu quý bị chiến tranh, thiên tai hủy hoại.

Việc kết nối dòng họ phải dựa trên những nguồn thông tin tư liệu xác thực được ghi trong sử sách, trong các Gia phả, Ngọc phả, Thần phả, v...v... hiện còn đang được lưu giữ trong các Thư viện, Viện bảo tàng lịch sử hoặc Viện lưu trữ quốc gia ở trung ương hoặc ở địa phương; trong các nhà thờ họ hoặc trong từng gia đình...
Trải qua hàng nghìn năm, tổng số người mang họ Phạm, có thể lên đến hàng trăm triệu người. Bởi “Nhân vô thập toàn” nên với chiều dài lịch sử hàng ngàn năm như thế: không thể tránh khỏi có người hại dân, bán nước, làm những điều xấu xa. Nói chung, trong các dòng họ Việt Nam (Nguyễn, Lê, Trần, Vũ, Phan, Hoàng, ...) đều có những người như vậy, trong đó có dòng họ Phạm chúng ta. Tên tuổi và tiểu sử của những người đó vẫn mãi còn ghi trong các Gia phả của dòng họ và trong một số sách sử của Việt Nam (nếu có). Trong tập tài liệu này, vì mục tiêu sưu tầm để cung cấp những thông tin hữu ích cho việc kết nối, nên hễ có thông tin về người họ Phạm nhất là trong tài liệu cổ là chúng tôi liệt kê để mọi người cần tìm thông tin dễ tiếp cận nguồn tư liệu. Với việc kết nối dòng họ thì việc tôn trọng sự thật là yêu cầu hàng đầu.

Chúng tôi mong rằng, tài liệu này góp một phần nhỏ bé để người họ Phạm tăng thêm niềm tự hào về những người đi trước và sẽ tiếp bước cha ông, để lại giá trị văn hóa đậm tính nhân văn.

Chúng tôi rất mong bà con cô bác trong họ - những người có cùng tâm nguyện nghiên cứu về lịch sử và những truyền thống tốt đẹp của họ Phạm Việt Nam; muốn góp phần bảo vệ và phát huy những truyền thống tốt đẹp đó; có lòng mong muốn tham gia nghiên cứu kết nối dòng họ Phạm, hãy trao đổi tin tức thường xuyên với Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam để duy trì thông tin dòng họ, nâng cao tình cảm bà con đồng tộc. Đây cũng chính là cách kết nối dòng họ cho tương lai, để đời sau không phải vất vả tìm kiếm thông tin về thời mà chúng ta đang sống hiện nay.
Hà Nội, mùa xuân Kỷ Sửu-2009

Người sưu tầm
Tháp Bút

[1] Chúng tôi cung cấp tài liệu này dưới dạng ebook để người sử dụng máy tính dễ tra cứu. Hãy dùng hộp thư gmail gửi yêu cầu nhận ebook (chủ đề: NHAN TIN) đến email: tulieuhopham@gmail.com. Quý vị sẽ được chia sẻ ebook dạng PDF với trên 200 trang.