Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009

Về thăm đất Thủ tướng

Nằm ở trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long xưa nay vẫn tự hào là vùng “địa linh nhân kiệt” và truyền thống cách mạng kiên cường. Điều ít người để ý là trong số 5 vị Thủ tướng của nước ta từ trước đến nay, có hai người được sinh ra từ vùng đất này. Đó là cố Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng) Phạm Hùng và nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Một ngày giữa tháng Chạp, năm 2005, tôi về thăm Vĩnh Long. Đã cuối mùa mưa, nhưng do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, trời mưa dai dẳng. Thị xã Vĩnh Long đón tôi trong màn mưa ảm đạm và lạnh lẽo. Ngồi co ro trong quán bên đường quốc lộ, tôi vừa cám cảnh cho mình vừa lo sợ không biết trời mưa thế này liệu có kịp hoàn thành bài viết. Bà chủ quán nhìn tôi ra chiều ái ngại và thông cảm: “Số chú cực, chứ mấy hôm trước trời nắng chang chang, tự dưng hôm nay lại đổ mưa”. Trời càng về chiều mưa càng nặng hạt và lạnh giá.
KHU TƯỞNG NIỆM BẬC TRÍ DŨNG
Sáng hôm sau, trời vẫn còn âm u. Mưa vẫn lắc rắc. Khoác áo mưa, tôi tìm về xã Long Phước, Long Hồ, viếng thăm khu tưởng niệm cố Chủ tịch Phạm Hùng. Ông tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11/6/1912 tại làng Long Hồ, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Long Phước, Long Hồ, Vĩnh Long). Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thông minh và gan dạ, giỏi võ nghệ. Năm 18 tuổi, đang học dở tại trường Trung học Collège de Mỹ Tho, ông tổ chức mít tinh và bị giặc Pháp bắt kết án tử hình. Sau đó, do phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp, ông được giảm án thành chung thân khổ sai, đày ra Côn Đảo… Sau cách mạng tháng Tám, ông trở về đất liền tham gia đấu tranh. Thời gian sau ông mất, nhà nước đã cho xây dựng khu tưởng niệm ông tại quê nhà.
Nằm cách thị xã Vĩnh Long chừng 5km, khu tưởng niệm khá khang trang, hoành tráng, tọa lạc bên đường quốc lộ. Anh Lê Ngọc Cường, nhân viên Bảo tàng Vĩnh Long, người hướng dẫn tôi thăm khu tưởng niệm, cho biết: Khu tưởng niệm được khởi công xây dựng ngày 10/8/2000 hoàn thành vào ngày 11/6/2004, nhân kỷ niệm 92 năm ngày sinh của cố Chủ tịch. Khu tưởng niệm có diện tích 3,2 ha gồm: nhà lễ tân, nhà tưởng niệm, nhà trưng bày. Ngoài ra, còn có ba hạng mục ngoài trời được phục chế theo tỷ lệ 1/1, gồm: phòng biệt giam ông tại Côn Đảo, ngôi nhà làm việc của ông tại căn cứ Trung ương cục miền Nam (Tây Ninh) và căn phòng làm việc của ông tại số 72 Phan Đình Phùng – Hà Nội. Hàng ngày, khu tưởng niệm đón khá nhiều khách đến viếng ông. Nhìn lên bức tượng bán thân của ông trong điện thờ, nhìn sang xung quanh hai bức phù điêu ghi lại hai lời phát biểu đấy khí phách của ông, tôi nghiêng mình thắp một nén nhang tỏ lòng khâm phục một con người trí dũng của dân tộc.
Rời khu tưởng niệm tôi ghé thăm gia cư của ba mẹ ông ở gần đó. Đó là một căn nhà đơn sơ và bình dị nằm lặng lẽ khuất sau những tàng cây ăn trái, bên dòng kênh Ông Me. Trong căn nhà này, hai người em gái ông sống cô quạnh và lặng lẽ. Khi tôi đến, hai bà không mấy vồn vã và kiệm lời, vì e ngại. Nhìn cảnh cô quạnh và lặng lẽ của họ tôi cảm thấy chạnh lòng. Và ý định chụp một tấm ảnh về họ đành phải từ bỏ. Tôi nhờ một thanh niên dẫn đi thăm nhà thờ họ Phạm. Ngôi nhà cũng bé nhỏ và lặng lẽ, đơn sơ trái ngược với tưởng tượng của tôi. Trong nhà thờ rất ít đồ đạc: ban thờ, đôi câu đối và bức tượng bằng thạch cao của cố chủ tịch Phạm Hùng. Sự bình dị của ông quả là có sức lan tỏa, ảnh hưởng lớn đến gia phong, ngay cả khi ông đã mất.
HÀO KHÍ CỦA VÙNG ĐẤT THIÊNG
Vĩnh Long là một vùng đất có bề dày văn hóa. Những di tích cổ như: di tích ao hồ ở Vĩnh Thành, xã Vĩnh Xuân, thuộc huyện Trà Ôn, di tích thành cổ thuộc huyện Vũng Liêm… là minh chứng về một nền văn hóa cổ hưng thịnh từng tồn tại trên miền đất này vào những thế kỷ đầu Công nguyên. Trải qua bao biến thiên của thời gian, nền văn hóa ấy rơi vào cảnh suy tàn do tác động của những đột biến về địa lý – sinh thái và kinh tế – xã hội. Có một thời kỳ dài, vùng đất này bị chìm ngập trong nước sau một lần “biển tiến” vào khoảng đầu thế kỷ VII. Và nó dần trở nên hoang vu.
Do địa thế và lịch sử hình thành, từ ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng sinh sống lâu đời ở đây đã hòa quyện và tạo nên một nền văn hóa đặc trưng cho vùng đất này. Nơi đây có khá nhiều loại hình văn học dân gian như: nói thơ Vân Tiên, nói tuồng, nói vè, hát huê tình, cải lương… Vĩnh Long cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa như: thành xưa Long Hồ được xây dựng năm 1813, miếu công thần, đình Tân Giai. Đặc biệt là Văn Xương Các ở thị xã Vĩnh Long, do đốc học Nguyễn Thông đề xuất thành lập. Đây được coi là tao đàn văn học của sĩ phu Nam Bộ trong thời kỳ thực dân Pháp xâm chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Cho đến nay, các văn nhân ở Văn Xương Các còn được truyền tụng:
“Vĩnh Long có cặp rồng vàng
Nhất Bùi Hữu Nghĩa nhì Phan Huân thần”
“Vĩnh Long có bốn rồng vàng
Lộc họa, Sang đàn, Nghĩa phú, Lễ thi”
Vĩnh Long có nhiều tôn giáo: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Cao Đài, Hòa Hảo. Nho giáo có ảnh hưởng lớn đến người dân nơi đây thông qua những lễ nghi, phong tục, tạo nên một nền văn hóa lâu đời và đặc trưng của vùng Nam Bộ. Trong lịch sử, nhiều trận đánh oai hùng của tiền nhân đã diễn ra ở Vĩnh Long.
Theo sử sách: Sau khi dựng phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn vào năm 1698, năm 1732, Chúa thứ 7 thời Nguyễn là Ninh Vương - Nguyễn Phúc Trú (1696 - 1738) lập ở phía nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chính mới là dinh Long Hồ, Châu Định Viễn, tức tỉnh Vĩnh Long ngày nay. Lỵ sở của dinh Long Hồ lúc mới thành lập đóng ở thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, được gọi là đình Cái Bè. Đến năm Đinh Sửu (1757) thì chuyển đến xứ Tầm Bào (thuộc địa phận thôn Long Hồ, nay là thị xã Vĩnh Long). Thành Long Hồ được xây dựng tại xứ Tầm Bào là thủ phủ của một vùng rộng lớn. Trước năm 1794, xứ này bao gồm cả vùng đồng bằng nằm giữa sông Tiền và nam sông Hậu, gồm các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang ngày nay. Sau năm 1794, được sát nhập thêm Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Di, tức các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Cần Thơ ngày nay.
Nhờ đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, việc buôn bán thông thương phát đạt, địa thế trung tâm…, dinh Long Hồ trở thành một trung tâm quan trọng thời bấy giờ. Để bảo đảm an ninh quốc gia, chúa Nguyễn đã thiết lập ở đây nhiều đồn binh như Vũng Liêm, Trà Ôn… Lê Quý Đôn ghi lại trong sách “Phủ Biên tạp lục” của mình về Châu Định Viễn: “Châu Định Viễn dân hơn 7.000 đinh, ruộng hơn 7.000 thửa, thuế lệ mỗi thửa hạng nhất 4 hộc, hạng nhì 3 hộc… Châu Định Viễn phần lớn thì ruộng không cày, phát cỏ rồi cấy, cấy một hộc thóc thì gặt được 300 hộc… Dinh Long Hồ bản trấn tinh binh 20 thuyền, mỗi thuyền 50 người, cộng 1.000 người, ghe bầu bải sư 18 chiếc là thuyền mã hội, tam binh hơn 300 thuyền, quân số chừng 12.000 người. Số thôn của Châu Định Viễn 350 thôn…”
Đến giữa thế kỷ 18, dinh Long Hồ là thủ phủ của vùng đất phía nam và là đại bản doanh của quân đội nhà Nguyễn có nhiệm vụ phòng thủ, ổn định và bảo vệ đất nước. Sử cũ còn ghi: Vào năm Canh Dần 1770, tại vùng đất này, lưu thủ dinh Long Hồ đã chặn đánh tan tác quân Xiêm La do Chiêu Khoa Liên cầm quân, tiêu diệt 300 tên địch, làm tan vỡ âm mưu xâm chiếm nước Việt của chúng. Nơi đây cũng từng diễn ra nhiều cuộc giao chiến ác liệt giữa nghĩa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh. Năm 1784, tại Măng Thít (Vĩnh Long) nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đánh bại liên quân Xiêm La do Nguyễn Ánh cầu viện…
Sau khi vua Quang Trung băng hà, nhà Tây Sơn mất do nội bộ xâu xé và vua Quang Toản bất tài. Nguyễn Ánh, sau 10 năm phục thù và chờ đợi, đã thừa cơ vực dậy triều Nguyễn, từng bước trả thù nhà Tây Sơn và để đất nước dần rơi vào cảnh nô lệ của giặc Pháp. Năm 1861, thành Vĩnh Long thất thủ lần thứ nhất sau khi thành Gia Định rơi vào tay giặc Pháp. Triều đình bạc nhược và khiếp sợ thỏa hiệp với giặc, bán nước. Nhân dân Nam Bộ, nhân dân Vĩnh Long, anh dũng đứng lên đấu tranh chống lại giặc Phú Lang Sa (Pháp). Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Tiêu biểu là trận đánh của đô đốc binh Lê Cẩn – Nguyễn Giao tiêu diệt quân Pháp và chặt đầu chánh tham biện Vĩnh Long Alix Salicetti. Khởi nghĩa Nam kỳ, năm 1940, cũng diễn ra ở đây … Phần còn lại, lịch sử đã ghi nhận.
DI CHỈ THÀNH MỚI TRÊN QUÊ HƯƠNG THỦ TƯỚNG
Tạm biệt Long Hồ, tôi đến thăm xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long – quê hương của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bây giờ đang là cuối năm, người nông dân vào vụ thu hoạch. Hai bên đường, những ruộng lúa chín vàng xen lẫn những vườn cây ăn trái xanh um. Xã Trung Hiệp là một xã có truyền thống cách mạng. Tại đây còn lưu giữ những dấu tích và ký ức hào hùng về thời kỳ đó. Đó là đình Bình Phụng, nơi họp chi bộ đảng đầu tiên do Phan Văn Hòa, còn gọi Chín Hòa, tên thật của ông Kiệt, lãnh đạo. Đây cũng là nơi xuất phát của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ do ông Kiệt lãnh đạo. Vào thời điểm đó, ông mới 22 tuổi. Cùng với đồng bào, nghĩa quân chỉ có dao mác, gậy gộc, ông đã có một trận đánh rất ấn tượng ở “bắc” Nước Xoáy, diệt nhiều tên địch, làm chủ tình hình, đục thủng 5 tàu giặc, chặn đường giao thông của địch từ Vĩnh Long xuống Trà Vinh… Đình Bình Phụng nay trở thành di tích lịch sử văn hóa của tỉnh. Một tấm bia tưởng niệm cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, do chính ông Kiệt lập đã được dựng tại đây. Tiếng là quê nhà của Thủ tướng, nhưng xã Trung Hiệp khá nghèo. Thời, còn tại chức thủ tướng Kiệt từng tâm sự với người dân nơi đây: “Tôi làm Thủ tướng nhưng không dám lo cho quê hương vì sợ mọi người cho rằng mình lo cho cá nhân nhiều quá”. Hiện nay, một ngôi trường cấp 1 đang được xây dựng trên nền nhà của ba mẹ ông Kiệt. Số vốn đầu tư do phu nhân của ông đài thọ. Sau ngôi trường này còn một cái ao, là nơi ông Kiệt từng dấu mình để tránh sự ruồng bố của giặc Pháp sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ.
Nơi quê hương, người thân của ông hầu như không còn ai. Hai người anh đã mất. Bà con, dòng họ ly tán. Tôi may mắn tìm gặp được ông Nguyễn Văn Mẹo, lớn hơn ông Kiệt 8 tuổi, là bạn thuở nhỏ cùng xóm với ông. Ông Mẹo kể: “Nhà ba má ông Kiệt nghèo và đông con. Ông Kiệt có 8 anh em nhưng mất đi một người lúc nhỏ. Ông là con út trong nhà. Do nhà nghèo, ông Kiệt phải đi làm con nuôi cho người chú. Năm 15 -16 tuổi đã phải làm thuê, làm mướn. Ổng hồi nhỏ có tướng người nhỏ con mà lanh lắm. Ổng nói chuyện rất hay và có duyên, thông minh và gan dạ. Tính ông là nói được. làm được, không như người ta. Con ngưới ta có số mạng. Ổng tài lắm, chỉ học lớp 3 trường làng mà làm lãnh đạo rất giỏi”.
Ngoài đình Bình Phụng, nơi đây còn có những di chỉ khảo cổ học như di chỉ Thành Mới,có ý nghĩa lớn về mặt khoa học, lịch sử. Qua khảo sát cho thấy vùng đất này từng có một nền văn hóa phồn thịnh của người Phù Nam. Kết quả khảo cứu tại di chỉ này đã thu nhận được nhiều hiện vật, di tích của ba tầng văn hóa Óc Eo có niên đại cách đây 2.000 năm. Đó là các tượng Visnu, đồ sành gốm, một số mảnh vỡ của những vật dụng gia đình như bình lọ, ấm chén… Khi tôi đến, sau đợt khai quật khảo cổ, di chỉ này được lấp đi và trở thành bãi sắn. Anh Đồng Văn Quý, cán bộ văn hóa xã Trung Hiệp, người dẫn đường cho tôi, tiết lộ : “Trước đây, vào dịp khai quật, bác Kiệt có về. Ông kể ngày xưa lúc còn nhỏ đi chăn trâu ở đây, ông thấy khu vực Thành mới này rộng và còn nguyên cả một đoạn thành dài cao, phải trèo lên mới thấy được qua vùng bên kia. Sau này người ta phá làm đường nên chẳng còn lại gì. Nghe đồn người ta từng nhặt được cả một pho tượng Phật nặng gần 40kg bằng vàng ở đây. Có người còn nhặt được cả nải chuối bằng vàng. Phía bên kia lúc khai quật, có tìm được một chiếc ấm tích bằng đất nung còn nguyên, khá đẹp”.
LỜI PHÂN GIẢI CỦA LỊCH SỬ
Vĩnh Long còn là nơi hội tụ của anh hào. Rất nhiều danh nhân Việt được sinh ra ở đây. Lớp tiền nhân có nhà nghiên cứu, nhà văn hóa lớn Trương Vĩnh Ký, Bùi Hữu Nghĩa, anh em Phan Tôn, Phan Liêm, con của đại thần Phan Thanh Giản – vị tiến sỹ đầu tiên của vùng đất Nam Bộ… Hoặc từng sống như Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Thông, Nguyễn Văn Thoại (tức Thoại Ngọc Hầu) … đã làm vinh danh cho Vĩnh Long. Lớp hậu sinh có giáo sư viện sỹ Trần Đại Nghĩa, Phan Văn Đáng – nguyên Phó bí thư Trung ương cục miền Nam, nghệ sỹ Út Trà Ôn, nghệ sỹ Thanh Lan… Đó là chưa kể đến những nhân vật của chế độ cũ như Thủ tướng Trần Văn Hương, thủ tướng Nguyễn Văn Lộc.
Rời Vĩnh Long, tôi cứ băn khoăn với suy nghĩ: Vì sao vùng đất này lại có thể sinh ra những con người kiệt xuất như vậy? Vì sao Vĩnh Long lại có tới hai thủ tướng? Khi tôi đưa thắc mắc này ra hỏi, một vị quan chức ở Vĩnh Long nói: “Đó là sự ngẫu nhiên thôi. Không có người này làm thủ tướng thì có người khác”. Đó cũng là một cách lý giải. Nhưng theo tôi, chưa ổn. Bởi vì điều này thuộc về lịch sử, gắn liền với lịch sử của một vùng đất, một dân tộc. Mà đã là lịch sử thì không thể có yếu tố ngẫu nhiên được. Nó là cả một quá trình vận động của cả một dân tộc, đất nước đó. Một người bạn của tôi, chị Lê Thị Kim Liên, cán bộ bảo tàng tỉnh Vĩnh Long nói vui: “Đất Vĩnh Long là đất “địa linh nhân kiệt” mà! Cả miền Tây và thậm chí miền Đông Nam Bộ, chỉ có Vĩnh Long là dám tự hào về điều đó thôi”. Vâng, nói theo tâm linh, đất “địa linh” tất sẽ sinh “nhân kiệt”. Một nơi có một bề dày lịch sử – văn hóa như Vĩnh Long ắt sẽ có anh hào. Phân tích theo luận thuyết Mác xít: con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Và các vĩ nhân là những người biết vận dụng, nắm lấy, hoặc tạo ra. thời thế hay hoàn cảnh lịch sử để thành công. Mác nói: “Hoàn cảnh sáng tạo ra con người, trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh”. Thời thế tạo anh hùng và anh hùng tạo ra thời thế là vậy chăng? Lời phân giải này thuộc về lịch sử, xin dành cho lịch sử.

NGUYỄN VĂN THỊNH
Nguồn tin: Blog Nguyễn Văn Thịnh

*Dẫn: Cựu TT Võ văn Kiệt vừa qua đời, tôi đưa bài viết này như một sự tưởng niệm. Bài viết được đăng trên báo Kinh tế Nông thôn cuối tuần Xuân 2005.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

Làng Phù Ủng - quê hương danh tướng Phạm Ngũ Lão

LƯỢC KHẢO VỀ HỌ VŨ CỦA LÀNG PHÙ ỦNG, HUYỆN ĐƯỜNG HÀO, TỈNH HẢI DƯƠNG
(Quê hương với danh tướng Phạm Ngũ Lão).

A. LỜI MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU LÀNG PHÙ ỦNG

Tên làng cổ này thoạt nghe lạ tai và khó hiểu ý nghĩa tên Làng này có nghĩa gì? Vì trong 50, 60 năm qua, Hán học suy tàn trong dân chúng cả nước ta, nhất là từ 1945 đến nay. Đại đa số người Việt sau năm 1954 chỉ biết chữ Quốc Ngữ theo mẫu tự A, B, C… Đến năm 2000, cả nước ta, chỉ còn không quá 500 người trong 80 triệu dân, biết đọc, biết viết chữ Hán Nôm! Đa số quá bán, lại là các cụ sư tăng cao tuổi. Trong xã hội bên ngoài chùa chiền, còn khoảng hơn 200 người biết chữ Hán Nôm và chỉ có 80 người thuộc loại giỏi, khá, có thể dịch thông thạo văn bản cổ thư xưa (có 50 người là chuyên viên Hán Nôm tốt nghiệp ở Đại Học Hà Nội, Huế, Sài Gòn trước 1975 đều lớn tuổi hơn 50, 60 vào những năm thập niên 90 của thế kỷ XX). Còn 120 người biết Hoa Văn phổ thông (Trung văn hiện đại) và các cụ già ở nông thôn Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Huế, Hà Tĩnh, Quảng Nam… và các tỉnh Bắc Bộ đọc, viết, hiểu nghĩa có hạn chế về Hán Nôm cổ. Riêng các cao tăng, phần lớn giỏi về Kinh Phật hơn văn học, sử học.

Vì lẽ đó, ngày nay, học sinh, sinh viên, công nhân, thương nhân và nông dân, cũng như đa số người dân Việt bình thường đều “mù chữ Hán Nôm” do cổ tự (chữ cổ) đó đã thành “tử ngữ”: (tiếng chết, chữ chết rồi) ít dùng ngoài đời sống hàng ngày trong xã hội hiện nay. Trừ Viện Hán Nôm, Viện Sử Học, Trường Đại Học, Thư Viện, lớp Đông Y và các chùa lớn ở Thừa Thiên Huế… Nên khi đọc chữ Hán cổ bằng quốc ngữ La Tinh, phần đông chẳng hiểu nghĩa ngữ gì cả!

Nên chữ PHÙ ỦNG đã có người đã “cả gan” cắt nghĩa: Phù là sưng to lên = phù nề, còn ủng là bị ngâm vào nước lâu ngày thành …hư thối.Thật hài hước. Thật ra: PHÙ [ 扶] là giúp đỡ, nâng lên, ỦNG[擁] là ôm lấy, bao bọc như ủng hộ, còn nghĩa là hùa theo, cùng ý kiến và hành động. Từ ngữ tên xã: PHÙ ỦNG có nghĩa là: tuân theo và giúp đỡ (Nhà Vua hay triều đình hoặc 1 thủ lĩnh nào đó). Một địa danh rất có ý nghĩa thời xưa.

Theo các tư liệu địa chí xưa, làng Phù Ủng đã được thành lập từ đời Nhà Lý (1010 – 1225)? Nhưng cố giáo sư Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, người có gốc ở làng Phù Ủng, đã thuật lại lời truyền thuyết của các Nho gia ở quê Ông rằng: “tên hương Phù Ủng đã có từ thời Ngô Quyền (939 – 944) và thời Loạn 12 Sứ quân (945 – 967). Bấy giờ ông Ngô Quyền đem binh từ Thanh Hóa ra Cổ Loa giết tên phản quốc Kiểu Công Tiện và đánh đuổi bọn quan quân Nam Hán năm 938 và phá tan đoàn chiến thuyền của tướng giặc Hoằng Tháo xâm lược bằng trận hải chiến ở Bạch Đằng Giang lẫy lừng thắng lợi. Trên đường đi ra đánh giặc ở cửa sông Bạch Đằng, ông Ngô Quyền có đi qua vùng Đường Hào, mộ thêm quân. Ông được trai tráng vùng Chiêu Lai, Phù Vệ (là 2 tổng về sau) đã tuân lệnh, bảo nhau phù trợ (phò tá, giúp sức) theo đại quân của danh tướng họ Ngô đi diệt thù thành công. Sau Ngô Quyền lên ngôi năm 939, thưởng công cho cư dân ở 2 trang vùng quê Đường Hào có dân binh giúp ông đi đánh giặc, mang tên là Chiêu Lai (chiêu mộ quân theo đến) và Phù Vệ (giúp sức bảo vệ đất nước). Đến triều Lý, Trần, đã trở thành 2 đại trang ấp rộng lớn. Vào thời loạn 12 Sứ Quân, ở đây đã có nhiều nghĩa sĩ chống lại Dương Tam Kha, cậu ruột vua Ngô Xương Ngập (con Vua Ngô Quyền), đoạt ngôi báu và xưng là Dương Bình Vương 945 – 950). Cùng lúc, các anh hùng, võ tướng khác cũng nổi lên “xưng hùng xưng bá” là Minh Công, chia đất, đặt căn cứ chống Bình Vương, thành đại loạn 12 Sứ Quân. Sau đó, chính họ lại đánh lẫn nhau. Ở vùng Đường Hào, Tế Giang thuở đó, có Sứ Quân Lã Đường, xưng là Lữ Tá công chiếm đóng, ủng hộ Hậu Ngô Vương, là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn chống Dương Bình Vương. Khi Nam Tấn Vương thành công, lên ngôi (950 – 965) đã thưởng công cho dân quân ở Chiêu Lai, Phù Vệ. Họ Lữ cho lập một ấp mới, đặt tên là ấp PHÙ ỦNG. Đến Nhà Lý thế kỷ 12, mới đổi thàmh “xã PHÙ ỦNG”. Những năm 1285 –1288, khi Hưng Đạo Vương làm Tiết Chế đánh quân Nguyên Mông, Phạm Ngũ Lão đã theo Vương từ làng này đi đánh giặc. Vua Trần phong cho ông làm chức Điện Soái. là danh tướng Nhà Trần, ông còn đánh Ai Lao, phá Chiêm Thành, phò tá ba triều Vua: Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông. Phạm Ngũ Lão là con rể của Hưng Đạo Vương và có con gái gả cho Vua Minh Tông làm thứ phi. Ông sinh năm 1255 và mất năm 1320 thọ 66 tuổi. Tương truyền, họ Phạm ở làng Phù Ủng đã có từ thời Nhà Lý (thế kỷ 12) vào đời Trần có dòng họ Nguyễn. Thời Lê sơ (1428 – 1527) có mấy chi họ Vũ từ huyện Đường An, xã Mộ Trạch, Thì Cử (cùng gốc Tổ Vũ Hồn, nhưng ngành, nhánh khác nhau) cùng đến lập Họ ở làng Phù Ủng khoảng cuối thời Vua Lê Thánh Tông từ 1490 trở đi? Khi Lê – Trịnh đánh Nhà Mạc, từ 1545 – 1592, dân chúng Hải Dương khốn khổ vì chiến tranh đã lại bỏ làng di tản tới các nơi khác. Họ Phạm hậu duệ Phạm Ngũ Lão, di cư xuống Sơn Nam (làng Tử Dương tức Làng Tía, phủ Phường Tín), Thanh Hóa. Rồi theo đà Nam tiến, đã đi tiếp vào Quảng Nam từ thời Lê Thánh Tông và từ cuối thời Trần Hồ (Phạm Nhữ Dực, Phạm Đức Đề, Phạm Nhữ Tăng… lập nghiệp ở xứ Quảng từ 1392 – 1471). Có 1 dòng họ Phạm (Ngũ Lão) từ làng Phù Ủng đi về Sơn Nam Hạ (Nam Định) từ thời Mạc tàn, Lê trung hưng (1593 – 1600). Nên ở thành phố Nam Định có “Phù ủng vọng từ” thờ “Thánh Ủng” từ lâu đời. Làng Phù Ủng còn có một dòng họ Phan lớn, có vài Tiến Sĩ, Cử Nhân triều Nguyễn. Đến cuối thế kỷ 20, làng này có 5, 6 dòng họ: Phạm, Vũ, Phan, Trần, Nguyễn sống quây quần bên nhau. Nhưng riêng họ Vũ, một số gia đình đã di cư ra Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng. Tại Hà Nội, từ thời Hậu Lê, Tây Sơn (1735 – 1802), bà con họ Vũ, họ Phạm gốc làng Phù Ủng cùng đã sống bằng nghề in sách chữ Nho và bán giấy, sách cho sĩ tử, Nho gia ở Thăng Long Hà Nội đến đầu thế thế kỷ 20. Khi Tây cấm học và thi Hương ở Bắc Kỳ từ năm 1915 (Ất Mão). Từ đó, Nho học suy tàn và nghề in sách, bán sách cũng tàn theo từ năm 1920. Có lẽ vì vậy, mà ngay từ thời đó, người làng Phù Ủng đã dựng ngôi đền thờ danh tướng Thành Hoàng: Phạm Ngũ Lão. Ngày nay, ngôi đền ở dãy số lẻ, đầu phố Lý Quốc Sư, gần phố Hàng Gai, Hàng Bông. Trước đền có hàng chữ Hán đắp nổi là: “PHÙ ỦNG VỌNG TỪ” (Đền thờ vọng Đức Thánh Phù Ủng), đã có trên dưới 200 năm nay. Đó chính là chứng tích cổ văn hóa tín ngưỡng của dân làng Phù Ủng.

Tôi có quen gia đình con cháu 1 cụ họ Vũ gốc Phù Ủng đã có nhiều đời ở Hà Nội làm nghề in và bán sách, giấy, bút, mực. Đến khoảng năm 1920 mới chuyển ra buôn bán nghề khác phố Hàng Gai. Một số nhà họ Phạm họ Vũ gốc làng Phù Ủng, thời Nguyễn 1802 – 1884, các cửa hiệu bán sách ở phố Hàng Giấy gần chợ Đồng Xuân, “biến tướng” thành “Nhà Tơ”, tức là “phố Hát Cô Đầu”, dành cho các “quan viên” mê hát Cô Đầu (Rượu) sa đọa, hơn là thưởng thức nghệ thuật ca trù - Ả đào truyền thống. Theo dòng họ Vũ ở Hàng Gai, Hàng Trống, Hàng Bông… gốc làng Phù Ủng, trước 1954, có kể cho Cha tôi (sinh 1899) nghe rằng: “họ Vũ làng Phù Ủng thời xưa là 1 dòng họ lớn có từ thời Mạc (khoảng 1560 ?)? Đến thời Hậu Lê, “họ Vũ Phù Ủng” đã có Nho học cao. Ban đầu có một số vị họ Vũ đỗ Hương Cống cùng các ông Hương tiến họ Phạm trong làng. Đến năm 1640, đời Vua Lê Thần Tông có ông họ Vũ trẻ tuổi Vũ Vinh Tiến (học trò giỏi của Ông Hương Cống tôn sư Vũ Văn Hoành là cha của 2 Tiến Sĩ Công Đạo, Công Lượng quê ở làng Mộ Trạch) đỗ Tiến Sĩ, mở đầu cho bảng vàng đại khoa cho làng Phù Ủng thời Hậu Lê. Vì trước đó, từ thời Lý, Trần, ngoài danh tướng Điện Soái Phạm Ngũ Lão là có tài võ, làng Phù Ủng chưa hề có đại khoa.


B. KHOA BẢNG LÀNG PHÙ ỦNG, huyện Đường Hào (Mỹ Hào – Mỹ Văn) thời Nho học xưa:

- Như đã nói ở trên, họ Vũ ở làng Phù Ủng chỉ bắt đầu có từ thời Nhà Lê Sơ (1428 – 1527), hoặc đầu nhà Mạc. Thủy Tổ là các cụ họ Vũ ở 1 số làng cổ thuộc huyện Đường An, di cư đến sống ở Phù Ủng. Theo các cụ họ Vũ, mà Nhóm chúng tôi gặp trong chuyến du khảo tháng 5/2006 cho biết: “hiện nay ở thôn Phù Ủng có đến 5 dòng họ Vũ khác nhau: Vũ Văn, Vũ Đình, Vũ Huy, Vũ Đức, Vũ Khắc?” Nhưng thực chất các cụ, các ông họ Vũ ở Phù Ủng đã tiếp chúng tôi, nói về các họ Vũ làng này rất lơ mơ. Thậm chí không biết các cụ tổ nhà các ông là những ai? Tên gì? Trong làng có 1 khu lăng mộ cổ bằng đá cẩm thạch và đá xanh to đẹp ở cánh đồng sau làng rất đẹp và qui mô. Ít thấy ở đồng bằng Bắc Bộ và cả ở Thanh, Nghệ, Tĩnh có khu lăng mộ cổ còn nguyên vẹn và quy mô như thế. HÌnh như chỉ còn thấy ở làng Phù Ủng. Vậy mà, có 1 ông viên chức ở làng họ Vũ lại bảo với chúng tôi: “đó là lăng của Tiến Sĩ Vũ Công Lượng”! Tôi ngạc nhiên và nghi vấn, vì ông Nghè Công Lượng là người Mộ Trạch đời Hậu Lê, thế kỷ 17, sao chôn ở Phù Ủng? Nhóm chúng tôi đi khảo sát khu lăng mộ đá và rất ngạc nhiên về những bia đá khắc chữ đẹp, sắc nét và khắc sâu nên không bị mưa, nắng, gió bào mòn. Tôi đọc các dòng chữ Hán thì ra lăng mộ của Tiến Sĩ Vũ Vinh Tiến (đỗ khoa Canh Thìn 1640) sinh năm Canh Thân (1620), được truy tặng chức Binh Bộ Hữu Thị Lang, tước Bá. Ông thuộc dòng họ Vũ làng Phù Ủng có tiên tổ đến lập nghiệp đông từ cuối thời Lê, đầu triều Mạc (khoảng đầu thế kỷ 16, 1505 – 1527). Ông đỗ Tiến Sĩ lúc có 21 tuổi. Ngoài ra, trong quần thể lăng mộ này còn có bia đá ghi rõ 7, 8 đời họ Vũ của Ngài và con cháu. Trong đó có 1 số vị đỗ Hương Cống, Hội thí Nhị, Tam trường. Chỉ duy nhất thời Hậu Lê, có 1 Tiến sĩ là ông Vũ Vinh Tiến.

Mộ của danh nhân khoa bảng họ Vũ Phù Ủng hiển hách như thế mà trong làng không ai biết! Có lẽ đa phần các vị họ Vũ còn trong làng tuy lớn tuổi, nhưng toàn là lão nông, thợ thuyến học vấn có hạn chế. Hơn nữa con cháu cụ Vũ Vinh Tiến không còn ai trong làng.

Theo các sách Đăng Khoa và gia phả thì Vũ Vinh Tiến sinh năm Canh Thân (1620) trong gia đình Nho Học. Thuở nhỏ lanh lợi, tài giỏi văn học. Ông đi bộ hàng ngày qua làng Mộ Trạch, cách 2 km, để theo học Thầy giáo Vũ Văn Hoành (1606 – 1650) nổi danh hay chữ lúc đó. Trò Vinh Tiến kém thầy 14 tuổi. Nhưng thầy rất yêu mến và tin cậy, vì trò Vinh Tiến thông minh, hợp ý thầy. Tuy ông Vũ Văn Hoành giỏi, mà tính nết nhút nhát, thần kinh yếu. Hễ cứ nghe tiếng trống thi đã khiếp sợ rồi hoảng loạn không làm được văn bài. Ông Hoành đã đi thi nhiều lần đều hỏng. Nên năm Kỷ Mùi (1619) ông và học trò Vũ Vinh Tiến cùng đem lều chõng thi ở trường thi Hải Dương (Mao Điền). Ông Vinh biết Thầy học mình hay mất tinh thần, nên xin với Quan chủ khảo cho vào phía trước Viện thu quyển ở trường thi, ngồi làm bài, xong sớm nộp trước (vì tự tin thầy trò đều giỏi). Quả nhiên khoa đó, Thầy Văn Hoành thấy có trò dựng lều chõng gần bên, khích lệ tinh thần Thầy. Nên ông đỗ Giải Nguyên (thủ khoa) còn trò Vinh Tiến (19 tuổi) đỗ hạng nhì áp sát thầy chỉ 1 bậc. Năm sau, khoa Canh Thìn (1640) đời Vua Thần Tông và Chúa Trịnh Tráng, thầy trò thi Hội Đình, thì chỉ có trò Vũ Vinh Tiến đăng khoa Tam giáp Tiến Sĩ. Khi rước vinh quy bái tổ về làng Phù Ủng, ông Vinh Tiến xếp thầy Hoành ngồi cáng đi trước cha mẹ ông để tỏ lòng biết ơn sư phụ. Sau Thầy Văn Hoành có 2 con trai ngang tuổi ông Vinh Tiến, đều đỗ Tiến Sĩ muộn hơn (1656, 1659) là Vũ Công Lượng và Công Đạo. Ông Hoành dạy học có tiếng giỏi, học trò sau có nhiều người đỗ Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa và Tiến Sĩ gần 1 chục ông.

Vũ Vinh Tiến ra làm quan đến chức Tự Khanh. Nhưng ông còn có tài quân sự, từng tham dự nhiều chiến trận có công lao. Được phong tước Tử. Cuối thế kỷ 17, ông bị bệnh mất được Thăng Binh Bộ Hữu Thị Lang (như Thứ trưởng Quốc Phòng nay) và được tước Bá.

Ngoài vị tiến sĩ kể trên, theo Đăng Khoa Lục và 1 tập gia phả chữ Hán của 1 gia tộc Vũ xưa in sách ở phố Hàng Gai, trong làng còn vài ông Hương Cống họ Vũ làng Phù Ủng dưới triều Lê (chưa kịp tra cứu). Riêng các khoa thi triều Nguyễn (1807 – 1915), chúng tôi chỉ thấy có 2 ông Cử Nhân họ Vũ có tên sau đây:

1/ ông Vũ Huy Thịnh: quê ở Phù Ủng, đỗ Cử Nhân thứ 2/24 ở trường thi Nam Định khoa Mậu Dần (1878), tức Á Nguyên. Chưa rõ làm quan chức gì?

2/ Ông Vũ Đức Cẩn: là 1 điều lạ đặc biệt cùng họ Vũ, cùng làng đỗ cùng 1 khoa (1878), đứng hạng 3/24 ngay sát dưới ông Cử Thịnh. Sách cổ cũng không cho biết ông Cử Cẩn làm quan đến chức nào?

Ngoài ra, dưới triều Nguyễn, các họ PHAN, họ TRẦN, họ NGUYỄN và họ PHẠM cũng có một số vị đỗ Tiến Sĩ, Cử Nhân. Đó là:

1/ Tiến sĩ Phan Trứ: (sinh năm Giáp Dần 1794). Ông quê quán ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào. Khoa thi Hương năm Tân Mão (1831) đỗ Cử Nhân thứ 5/31 ở trường thi Nam Định. Nổi tiếng hay chữ, có tài văn chương. Năm sau, 39 tuổi, khoa thi Hội Đình ở Huế, ông vào ứng thí, đỗ đầu. Đình Nguyên Nhị Giáp Tiến Sĩ năm Nhâm Thìn 1832. Từng làm quan nhiều cấp, sau đến chức Tuần phủ Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa (kiêm 3 tỉnh nhỏ lúc đó). Ông từng làm Chánh Chủ khảo ở các trường thi Hương trong nước. Không rõ tuổi thọ. Em ông đỗ Cử Nhân.

2/ Cử nhân Phan Khắc Nhân (sau đổi là Khắc Hiệu).

- Là em ruột ông Nghè Trứ, đỗ cử nhân sau anh 1 khoa, vào năm Giáp Ngọ (1834). Thứ 5/9 người ở trường thi Nam Định. Làm Tri Huyện.

- Sau anh em ông TRỨ, làng Phù Ủng, có thêm 9 ông đỗ cử nhân nữa. Trong đó có 2 ông họ Vũ đã nêu ở trên. Còn lại 7 ông, với 4 ông họ Nguyễn, 2 ông họ Trần, 1 ông họ Phạm là:

3/ ông Trần Như Sơn: sau đổi tên là TRẦN XÁ DIỆU. Đỗ cử nhân thứ 3/22 ở khoa Hương năm Mậu Thìn (1868). Làm tri huyện.

4/ ông Nguyễn Đình Khanh: đỗ thủ khoa thi Hương (giải Nguyên) năm Bính Tí (1876). Làm quan đến chức Bố Chánh Tuyên Quang.

5/ Ông Nguyễn Đình Thanh: là em ruột ông giải nguyên Khanh, và đỗ thứ 9/21 người ở Nam Định. Ra làm quanTri Huyện, rồi xin về cư tang. Hai anh em ruột cùng đỗ 1 khoa 1876.

6/ Ông Trần Khánh Duật:  Đỗ thứ 21/24 ở trường Nam, năm Kỷ Mão 1879. Làm Huấn Đạo.

7/ Ông Phạm Huy Thuyên: Đỗ thứ 49/74 ở trường Hà Nội – Nam Định – Ninh Bình năm Bính Tuất 1886 (khoa này ông Chu Mạnh Trinh thủ khoa). Không rõ làm quan chức gì?

8/ Ông Nguyễn Đình Chuẩn: Đỗ thứ 42/70 ở trường Hà Nội – Nam Định (thi chung) khoa Tân Mão 1891.

9/ Ông Nguyễn Bá Cung: là con ông cử Đình Khanh (giải nguyên). Đỗ thứ 10/50 ở trường Hà Nam, khoa Bính Ngọ (1906). Tri huyện.

Như thế, chỉ trong triều Nguyễn, làng Phù Ủng, ngoài họ Vũ ra, các họ khác còn có đến 9 ông đỗ cử nhân, 1 ông đỗ Tiến Sĩ (Phan Trứ)./.

Cự Vũ (Vũ Hiệp) soạn.


Nguồn tin: Ban liên lạc dòng họ Vũ Võ TP.HCM

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

Chuyện tên phố, tên phường Hà Nội

TP - 1. Hòa Mục là ngôi làng cổ của Hà Nội, nằm bên dòng Tô Lịch. Làng có ngôi đền Dục Anh sát bờ sông.

Thần phả của đền chép, thủa vua Mai Hắc Đế chống giặc Đường, có Hoàng hậu Phạm Thị Uyển lãnh một đạo thủy binh đánh nhau với tướng giặc Dương Tư Húc trên sông Tô. Thế giặc mạnh, liệu địch không nổi, bà Uyển nhảy xuống sông tự trầm. Xác bà được dân bí mật an táng trong ngôi vườn hoang cạnh bờ sông, rồi dựng lên ngôi miếu nhỏ.

Thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay) rồi kinh đô Vạn An (Nghệ An ngày nay) của nhà Mai lần lượt thất thủ. Đất nước lại rơi vào đêm dài Bắc thuộc. Ngôi miếu cạnh sông Tô đượm khói hương, nhưng câu chuyện về Hoàng hậu hầu như không còn được biết đến.

Những năm đánh giặc Minh, có lần thua trận đang đêm vượt sông Tô, Lê Lợi qua đêm tại ngôi miếu hoang cạnh sông Tô ấy. Lê Lợi được một phụ nữ báo mộng: Ta là Hoàng hậu nước Nam, năm xưa đánh giặc phương Bắc, tử trận trên sông, được thờ ở miếu này. Ta sẽ âm phù cho ngài chống giặc, giành lại non sông về cho người nước Nam.

Kháng chiến thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua. Ông cho xây lại miếu thành đền, ban đạo sắc phong thần cho bà Phạm Thị Uyển.

2. Cái năm Hòa Mục sắp chuyển từ làng lên phố, tôi viết câu chuyện đền Dục Anh, gửi đăng báo Phụ nữ Thủ đô, với lời đề nghị đặt tên con đường chạy dọc sông Tô, qua cổng đền Dục Anh, là đường Phạm Thị Uyển. Bài báo không nhận được hồi âm nào từ các nhà quản lý và các nhà văn hóa...

Hòa Mục giờ thuộc phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy. Con đường chạy qua cổng đền Dục Anh được đặt tên là Nguyễn Ngọc Vũ.

Tôi có hỏi một số bậc cao niên trong làng, rồi một số cán bộ phường: “Nguyễn Ngọc Vũ là danh nhân thời nào, gắn bó với mảnh đất Hòa Mục ra sao?”. Câu trả lời cho thấy còn ít người biết về danh nhân này.

3. Hà Nội đang được mở rộng. Nhiều làng, cánh đồng sẽ thành phố xá, nhiều đường vô danh sẽ được đặt tên. Thị xã Hà Đông sáp nhập về Hà Nội, hàng loạt đường, phố bị trùng tên, cần được thay đổi.

Sẽ có nhiều tên danh nhân được đặt tiếp cho các đường phố. Đây là sự tôn vinh của hậu thế đối với những bậc tiền bối làm nên sự nghiệp vẻ vang, vì dân, vì nước.

Qua câu chuyện ở làng Hòa Mục, thiết nghĩ việc đặt tên ai, sự nghiệp chiến công vẻ vang ra sao, nên có sự phổ biến, bàn thảo rộng rãi, để đông đảo nhân dân cùng tham gia.

4. Nhân bàn chuyện này, tôi xin được nêu thêm vài ý kiến nhỏ.

Đất nước đã độc lập, hòa bình. Đây là lúc chúng ta cần ghi nhận những cái tên như Loseby, luật sư người Anh, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ái Quốc tại tòa án Hương Cảng năm nào, Morrison, người Mỹ, đã tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Không chỉ là sự tôn vinh, những con phố mang tên người nước ngoài còn cho thấy đất nước ta đang mở cửa rộng rãi để hội nhập với thế giới.

Đất nước cũng đã đổi mới hơn hai mươi năm. Thiết nghĩ, đã đến lúc cần ghi nhận những giá trị có sức sống bền lâu cùng năm tháng. Nhà thơ lục bát tài hoa Nguyễn Bính, nhạc sỹ có công chúng rộng rãi Trịnh Công Sơn, nhà cải cách kinh tế vượt trước thời đại Nguyễn Kim Ngọc, đều là những danh nhân đáng được vinh danh trong thời kỳ đổi mới này.

Đổi mới tư duy về cách đặt tên đường, tên phố hẳn sẽ giúp trẻ em khi lớn lên trở nên gần gũi và gắn bó hơn với nơi mình sinh ra và lớn lên.

Đinh Anh Tuấn

Nguồn tin: tienphong.vn

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2009

Thái Nguyên: Phát hiện di tích thờ tướng quân Phạm Cự Lạng ở Phú Bình và Phổ Yên

Qua cuộc khảo sát di tích thuộc địa bàn huyện Phú Bình và Phổ Yên gần đây, Sở Văn hoá Thông tin Thái Nguyên đã phát hiện 3 di tích lịch sử văn hoá thờ danh nhân Phạm Cự Lạng-người được phong làm Thái úy, thời vua Lê Hoàn. Đó là các di tích: Đình Đoài, thuộc xóm Ngói, Hà Châu (Phú Bình); đình Hoàng Đàm, xóm Hoàng Đàm, Nam Tiến và đình Thượng Giã, Thuận Thành (Phổ Yên).
Còn có các nơi khác có đền thờ ông:
-Đồng Cổ (tức xã Đan Nê, Yên Định, Thanh Hóa)
-Đa Cái ở Hoan Châu (tức xã Hương Cái, Hưng Nguyên, Nghệ An ngày nay-tây nam huyện Hưng Nguyên). Địa danh này liên quan đến Quang Trung và giả vương Phạm Công Trị
-Đền Lương Sử ở cạnh Văn Miếu, phường Quốc Tử Giám, Hà Nội
-Tại Hưng Lộc (Nghĩa Hưng, Nam Định)[1].
Qua nghiên cứu các sắc phong và thần tích còn lưu giữ được ở ba ngôi đình thờ ông ở Thái Nguyên thì trong các bản thần tích đều gọi tên ông là Phạm Cự Lượng, tỏ ý tôn trọng tên tục của ông và ghi rõ tên hiệu của ông là Hồng Thánh Khuông Quốc Trung Vũ Tá Trị Đại Vương, thời Lý Thái Tông
Ngoài các di tích thuộc địa bàn các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nội và Nam Định (Hải Dương quê ông có đền thờ ông không?) có tỉnh Thái Nguyên còn 3 di tích thờ ông . Sắc phong và bài vị của đình Đoài được vua Tự Đức thứ 33 (1881) ban sắc phong cho Phạm Cự Lạng như sau: “Cương kiên trung kiêu địch quả trang vũ quang ý Khuôn Quốc trung đẳng thần”…

Như vậy, qua việc phát hiện các tài liệu Hán Nôm tại các di tích nói trên cho biết thêm về 3 nơi thờ Phạm Cự Lạng, một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời xưa của tỉnh Hải Dương là điều đáng quý bởi như sử sách đã ghi chép ông là một người có công với dân, với nước cho nên nhân dân tỉnh Thái Nguyên cũng thờ ông.[2]

Tháp Bút tổng hợp từ Báo Thái Nguyên và các tư liệu của BLL họ Phạm VN

-----------------------
[1]Thời Đinh, Phạm Cự Lạng được phong chức Phòng Ngự sứ tiên phong Tướng quân ra giữ cửa biển Đại Ác (nhà Lý đổi là Đại An là cửa Liêu thuộc xã Quần Liêu huyện Đại An).
[2] Đến thời Tiền Lê, ông cầm quân phá Tống ở biên ải. Rất khả năng ba nơi thờ ông ở Thái Nguyên cũng có thể là nơi ông đã cầm quân đánh giặc. Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục vào năm 981: Bấy giờ quân Tống chia đường sang xâm lấn: Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng kéo đến Lạng Sơn; Trần Khâm Tộ kéo đến Tây Kết, Lưu Trừng kéo đến sông Bạch Đằng.
Có nhiều thông tin cho rằng Phạm Cự Lượng chỉ huy đánh quân Tống cả ở Bạch Đằng và Chi Lăng.

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2009

Võ miếu ở cố đô Huế

Nước ta có một lịch sử lâu dài chống ngoại xâm, vì thế việc binh bị thường được coi trọng. Việc tuyển chọn người tinh thông võ nghệ để ra giúp nước thời nào cũng có. Đến năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua cho xây dựng Võ Miếu để thờ những bậc anh tài về quân sự. Võ Miếu được khởi công tháng 9 năm Ất Mùi tại làng An Ninh, huyện Hương Trà nằm phía bên trái Văn Miếu, mặt nhìn ra sông Hương.

Đến năm Minh Mạng thứ 20 (1939), vua cho dựng bia Võ công ở trước sân Võ Miếu. Tấm giữa ghi bài ký về võ công, hai tấm ở trái và phải nêu danh những danh tướng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Về sau, còn có hai tấm bia ghi tên những Tiến sĩ Võ khoa trong các khoa thi năm Ất Sửu (1865), Mậu Thìn (1868) và ân khoa Kỷ Tỵ (1869)[1].

Các danh nhân đó là:

1. Bia Võ công ở bên trái (5 vị):
- Bình Thành bá Trương Minh Giảng...
- Tân Phước hầu Phạm Hữu Tâm, Thái tử Thiếu bảo, Tiền quân Đô thống Chưởng phủ sự lãnh chức Tổng đốc Hà Ninh, người Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
- Võ Lao hầu Tạ Quang Cự...
- Chương Nghĩa hầu Phan Văn Thúy...
- Tân Lộc nam Mai Công Ngôn...

2. Bia Võ công ở bên phải (4 vị):
- Tân Long hầu Nguyễn Xuân
- Tín Võ hầu Phạm Văn Điển, Thái tử Thái bảo Tiền quân Đô thống Phủ đô thống Chưởng phủ sự, người Phú Vang phủ Thừa Thiên
- Ân Quang tử Lê Văn Đức...
- Bình Khánh tử Trần Văn Trí...
- ... Tôn Thất Bật (bị đục tên trên bia do kết án dự mưu phản nghịch trong vụ Hồng Bảo)

3. Bia Tiến sĩ Võ khoa Mậu Thìn (1868)
- Nguyễn Văn Vận...
- Phạm Học: Năm Tự Đức thứ 11 thi đỗ tam trường. Hiện thụ chức Đội trưởng của đội 5 thuộc Võ Sinh vệ. Thi hội trúng thứ 5 hạng Thứ trúng cách. Sinh năm Kỷ Mão, 50 tuổi [2]. Người xã La Qua, tổng Hạ Nông Trung, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Nguyễn Văn Tứ...
- Dương Viết Thiệu...
- Đỗ Văn Kiệt...
...

Ngoài ra ân khoa Kỷ Tỵ (1869) còn có Võ Phó bảng Phạm Văn Thành. Về hai vị công thần họ Phạm thời đầu Triều Nguyễn là Phạm Hữu Tâm và Phạm Văn Điển, chúng tôi xin được giới thiệu ở Bản tin nội tộc những số sau.

Tháp Bút tổng hợp
Theo cuốn “Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn” chủ biên Phạm Đức Thành Dũng-Vĩnh Cao

-------------
[1] Số lượng khoa thi Võ là rất hạn chế (3 khoa)
[2] Người cao tuổi nhất đậu Tiến sĩ Võ

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2009

Một số lễ hội mùa xuân ở các di tích thờ danh nhân họ Phạm

BBT: Mùa xuân – mùa của lễ hội, các vùng quê tưng bừng với những lễ hội tưởng nhớ công đức các vị danh nhân có công bảo vệ giang sơn, xây dựng đất nước, lập nên làng ấp trù phú,... Xin nêu một số lễ hội đầu năm tưởng nhớ công đức các vị danh nhân họ Phạm (thống kê theo thời gian mở hội). Thống kê này là chưa đầy đủ, kính mong quý vị bạn đọc bổ sung.

1. HỘI VẬT CẦU Kim Sơn, xã Tân Trào, Kiến Thụy, Hải Phòng.
Thời gian: mùng 5 tháng Giêng của năm "Phong đăng hoa cốc", 3 năm mới tổ chức một lần.
Tương truyền, vật cầu vốn là môn thể thao do tướng Phạm Ngũ Lão đặt ra để rèn luyện quân sỹ.

2. HỘI LÀNG HỚI xã Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình
Thời gian: mùng 6 tháng Giêng
Thờ: Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (1454-?)-Ông Tổ nghề chiếu

3. HỘI LÀNG HÉT xã Thái Thượng, Thái Thụy, Thái Bình
Thời gian: mùng 8 tháng Giêng
Thờ: Điện soái Phạm Ngũ Lão

4. HỘI ĐỀN ỦNG xã Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên
Thời gian: 11 tháng Giêng (từ 10 đến 25 tháng Giêng)
Thờ: Điện soái Phạm Ngũ Lão (1255-1320)

5. HỘI ĐỀN QUÁT xã Yết Kiêu, Gia Lộc, Hải Dương.
Thời gian: diễn ra từ 10-20 tháng Giêng.
Thờ: Yết Kiêu (Phạm Hữu Thế)

6. LỄ HỘI ĐỀN MÂY phường Lam Sơn, Tp Hưng Yên
Thời gian: mồng 8-16 tháng Giêng nhân ngày sinh; ngày 12-18 tháng 11 nhân ngày hoá của tướng quân Phạm Bạch Hổ
Thờ: Thân vệ tướng quân Phạm Bạch Hổ (910-972)

7. HỘI THỤY TRÀ xã Nam Trung, Nam Sách, Hải Dương.
Thời gian: ngày 12 tháng Giêng
Thờ: Thượng đẳng phúc thần Phạm Lệnh Công Đại vương và Thượng đẳng phúc thần Phạm Hoà Đại vương-hai vị Thành hoàng làng của làng Thuỵ Trà

8. HỘI ĐÌNH CẢ-(Hội Lim) xã Nội Duệ, Tiên Du, Bắc Ninh
Thời gian: ngày 13 tháng Giêng
Thờ: Tướng Phạm Ban thời Lý-Thành hoàng Đình Cả

9. HỘI ĐỀN QUỸ NHẤT xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Hưng, Nam Định
Thời gian: ngày 14 tháng Giêng
Thờ: Tam Đăng Phạm Văn Nghị (1805-1881)

10. HỘI ĐỀN LƯƠNG SỬ công viên Văn Miếu, Hà Nội
Thời gian: ngày 20 tháng Giêng
Thờ: Thái úy Phạm Cự Lượng (944-984)

11. HỘI ĐÌNH XẠ SƠN (Đình Cả) xã Quang Trung
Thời gian: 25-26 tháng Giêng.
Thờ: 5 vị Thành hoàng: Đô Lỗ, thời Tiền Lê và Đào Thành, Phạm Minh, Nguyễn Thiết, Vũ Oai, thời Lý có công đánh giặc Ai Lao

12. HỘI ĐÔNG LINH xã An Bài, Quỳnh Phụ, Thái Bình
Thời gian: ngày 14 tháng 2
Thờ: Tướng quân Phạm Bôi khởi nghĩa Lam Sơn

13. HỘI BÁNH CHƯNG LÀNG NGHÌN Quỳnh Phụ, Thái Bình.
Thời gian: ngày 16 tháng 2
Thờ: Bát thị Tiên tổ (tám vị tổ của tám dòng họ có công lập làng) và bảy vị thần họ Phạm có công giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh

14. HỘI MẪU LIỄU Có ba nơi tổ chức lễ hội:
-Phủ Dày ở xã Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định
-Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp) ở xã Yên Đông, Ý Yên, Nam Định
-Phủ Sòng Sơn ở huyện Hà Trung, Thanh Hoá
Thời gian: ngày 3 tháng 3 (Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ)
Thờ: Mẫu Liễu Hạnh Phạm Tiên Nga

15. HỘI THỦY TÚ xã Thủy Đường, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng
Thời gian: ngày 9 đến ngày 12 tháng 3
Thờ: 4 anh em họ Phạm theo Lê Hoàn chống Tống. Lập chiến công lớn. Trang Ngọc Phương (nay là thôn Thủy Tú) thờ người anh cả là Phạm Quang, trang Chiếm Phương thờ Phạm Nguyên, trang Trường Sơn thờ Phạm Huấn và Cúc Nương.

16. HỘI ĐÌNH NGOẠI xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội
Thời gian: ngày 10 tháng 3 nhân ngày sinh và ngày 20 tháng 7 nhân ngày hóa Đô Hồ Đại vương
Thờ: Đô Hồ Đại vương, Long Biên hầu, Tả tướng Phạm Tu (476-545) Trưởng Ban Võ nhà nước Vạn Xuân. Thượng thủy tổ Họ Phạm Việt Nam.

17. HỘI AN THỦY xã Hiến Thành, An Hải, Hải Phòng
Thời gian: từ 10-13 tháng 3, chính hội ngày 12
Thờ: Phạm Luận, Phạm Tụng là hai trong bảy anh em họ Phạm (Phạm Luận, Phạm Thọ, Phạm Thành, Phạm Tường, Phạm Tụng, Phạm Kế và Phạm Thị Phương) là những người có công chống giặc Minh.
Bảy anh em Phạm Luận còn được thờ ở ĐỀN NGƯ UYÊN xã Long Xuyên (hội ngày 12 tháng 3) và thôn Vụ Nông xã Đại Bản, huyện An Hải, Hải Phòng.

18. HỘI ĐỀN PHẠM CÔNG TRỨ xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên
Thời gian: ngày 17 tháng 3 nhân ngày sinh và ngày 28 tháng 10 nhân ngày mất Phạm Công Trứ.
Thờ: Thái tể Phạm Công Trứ (1600-1675)

Người sưu tầm
Tháp Bút

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2009

Giới thiệu các làng cổ có dòng họ Phạm phát triển lâu đời

Với mục đích thống kê nhiều nhất các làng xã có người họ Phạm sinh sống lâu đời. Đây có thể là các địa chỉ giúp kết nối các dòng họ Phạm Việt Nam.
Kính mong bạn đọc cung cấp tư liệu, đường link trên mạng,... giúp thống kê ngày một đầy đủ.
Xin nhắn tin ở phía dưới trang, hoặc gửi email đến tulieuhopham@gmail.com


Các làng nổi tiếng Việt Nam

Xem giới thiệu các dòng họ Phạm trên trang tin điện tử của họ Phạm Việt Nam

HÀ NỘI

Làng Thanh Liệt - quê hương Thượng thủy tổ Phạm Tu
Làng Đông Ngạc
Làng Bát Tràng
Làng Đôn Thư
Làng Khương Trung
Làng Mọc - Quan Nhân
Làng Giáp Lục (cạnh Giáp Bát)

Xem thêm các làng ở Hà Nội
Các làng nội thành Hà Nội

HẢI DƯƠNG


1. Làng cổ Kim Đôi ở huyện Cẩm Giàng


2. Làng cổ Lam Cầu huyện Tứ Lộc
Làng Chắm, Trúc Lâm



THÁI BÌNH

Nguồn: Làng nổi tiếng ở Thái Bình
1. Làng Đông Linh - Quỳnh Phụ
Quê hương của Phạm Bôi, công thần khai quốc triều Lê Sơ
Làng văn vật, khoa bảng nổi tiếng
Làng duy nhất có một bản hương ước được khắc vào bia đá gần 300 năm nay
Người giới thiệu: Phạm Minh Đức (báo Văn Nghệ số 38 ra ngày 20/ 9/ 2003)

2. Làng Tân Lễ - Hưng Hà
Quê hương của Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ
Người giới thiệu: Đinh Công Vĩ (theo báo Văn Nghệ)
Nghề dệt chiếu làng Hới

3. Làng Phúc Khê - Thái Thụy
Quê hương của danh hoá văn hoá Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm…của tấm gương trung liệt Phạm Công Thế
Họ Quách nổi tiếng Việt Nam và Trung Quốc về tài ngoại giao
Làng Phúc Khê có thư viện từ thế kỷ 15
Người giới thiệu: Phạm Minh Đức

4. Làng Trình Phố - Tiền Hải
Người giới thiệu: Quang Khải (báo Văn Nghệ số 12 ra ngày 22 tháng 3 năm 2003)

NAM ĐỊNH

Làng Hành Thiện
Làng Nam Chấn, huyện Nam Trực

THANH HÓA

Mường Ca Da, huyện Quan Hóa
Làng Phương Khê
Xã Quảng Hưng


NGHỆ AN

1. Làng cổ Đặng Điền huyện Nghi Lộc
Làng Bích Triều (xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương)

QUẢNG BÌNH

Làng Lũ Phong xã Quảng Phong, Quảng Trạch

THỪA THIÊN-HUẾ

36 dòng họ Phạm định cư lâu đời

ĐÀ NẴNG
Làng Cổ Mân

QUẢNG NGÃI

Xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn và danh nhân Phạm Hữu Nhật-người dựng bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa từ năm 1836

Tháp Bút