Hiển thị các bài đăng có nhãn Người họ Phạm thời nay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người họ Phạm thời nay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

Người giữ sử giữa lòng biển xanh

(QNg) - Vừa nghe tôi hỏi đến tên "Phạm Thoại…", anh xe ôm ngay cầu cảng Lý Sơn liền reo lên: "Phạm Thoại Tuyền chứ gì? "ông Hoàng Sa" ấy mà, dân đảo này từ già đến trẻ ai mà không biết và quý trọng ông Tuyền. Để tui chở đến nhà ổng cho, miễn phí...".


Ông Phạm Thoại Tuyền đang dâng hương tại mộ gió cụ Phạm Hữu Nhật (Chánh đội trưởng Đội Thuỷ quân Hoàng Sa).

Trước sự hồ hởi của người dân đảo Lý Sơn khi nhắc đến tên Phạm Thoại Tuyền khiến tôi càng thêm nôn nóng muốn gặp ông. Không chỉ vì tôi đã biết ông là người lưu giữ nhiều tài liệu quý về Hoàng Sa, mà giờ tôi còn biết thêm được sự quý trọng của người dân trên đảo dành cho ông vì ông là… người giữ sử giữa lòng biển xanh.

"Ông Hoàng Sa" của Lý Sơn

Trước mặt tôi là người đàn ông khoảng hơn 60 tuổi, dáng người thanh mảnh, vẻ trí thức vồn vã đón khách vào thăm nhà mình. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt tôi là căn phòng chưa đầy 30 m2, nhưng chứa đầy đồ gốm sứ, các bức tượng Chăm, tiền xu, đồ thờ, chén dĩa cổ, ấn tín thời Nguyễn, đặc biệt là một kho tàng về tư liệu Hoàng Sa... và cả những giấy khen vì các thành tích phát hiện bảo vệ các hiện vật văn hóa của ông, do các cơ quan chức năng tặng ông Tuyền. Nghe tôi hỏi về biệt danh "ông Hoàng Sa", ông Phạm Thoại Tuyền bật cười thú vị giải thích về tên gọi đặc biệt này do người dân trên đảo đặt cho ông.

Bởi hiện nay ông có trong tay khá nhiều tư liệu quý về Hoàng Sa. Nói rồi ông đưa cho tôi xem những tư liệu mà ông còn lưu giữ đến giờ. Theo những gì còn lưu giữ lại tại nhà ông Phạm Thoại Tuyền thì, vào thế kỷ 16, với ý thức về chủ quyền lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên vô giá ở biển Đông, Chúa Nguyễn đã lập đội Hoàng Sa để canh giữ chủ quyền của đất nước.

Đội Hoàng Sa lấy từ người làng An Vĩnh của huyện đảo Lý Sơn. Nhiệm vụ của đội là trong thời gian từ tháng hai đến tháng ba hằng năm dong thuyền ra biển, vượt muôn trùng sóng gió đến các đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo phía Nam khác, để đo đạc thuỷ trình, canh chừng giặc biển, dựng bia chủ quyền, khai thác và đánh bắt hải sản...

Dân binh phải đi bằng ghe câu, chèo khoảng ba ngày ba đêm thì đến quần đảo Hoàng Sa nếu biển yên gió lặng. Trong thời gian sáu tháng làm nhiệm vụ lênh đênh trên biển, đối phó với trăm ngàn hiểm nguy có thể mất mạng bất cứ lúc nào nên trên mỗi thuyền câu ngoài trang bị lương thực, còn chuẩn bị sẵn nẹp tre, dây buộc, chiếu, thẻ bài đề phòng chẳng may hy sinh thì người còn lại sẽ bó xác vào chiếu, hy vọng trôi về quê nhà. Và nhiều người đã ra đi mãi mãi, biển xanh là nghĩa trang của họ...

Ngày nay, trên đảo còn tồn tại một loại mộ gọi là mộ gió, những ngôi mộ này được người dân trên đảo lập ra, thờ cúng và tôn kính. Tuy nhiên bên dưới không hề có xương cốt, chỉ có hình nhân thế mạng làm bằng đất sét trắng tượng trưng cho những người đã ra đi không trở về... Ông Tuyền đã đại diện tộc họ Phạm (Văn) - một trong những tộc họ lâu đời trên đảo, có rất nhiều người đi lính Hoàng Sa như Phạm Văn Nguyên, Phạm Văn Sang, Phạm Hữu Nhật... đề nghị các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng có liên quan dựng bia cho những ngôi mộ gió này, nhằm tri ân họ.

Vào tháng 4 hằng năm, người dân huyện đảo Lý Sơn lại long trọng tổ chức "Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa" để ghi ơn những người làm nhiệm vụ giữ gìn biên cương Tổ quốc trên biển Đông trong đội Hoàng Sa, đồng thời qua đó để các lớp con cháu hôm nay hiểu rõ hơn về tổ tiên, nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ông Tuyền luôn trăn trở và mong muốn những giá trị văn hoá cao đẹp ấy của Lý Sơn được nhiều người biết đến và công nhận. Mỗi khi có khách từ đất liền ra thăm đảo, ông Tuyền đều tình nguyện làm "hướng dẫn viên du lịch" đưa các vị khách đi tham quan, đồng thời nhiệt tình giải thích, thuyết minh về các giá trị văn hoá, lịch sử của huyện đảo, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Hoàng Sa. Do am hiểu, tâm huyết, góp nhiều công sức vào việc lưu giữ và phổ biến những câu chuyện về Đội dân binh Hoàng Sa ấy, vì vậy nên mọi người quý trọng gọi ông là "ông Hoàng Sa".

Muốn con cháu hiểu được lịch sử của cha ông

Ông Tuyền tâm sự về lý do mình sưu tầm các cổ vật, lưu giữ các tài liệu quý liên quan đến Hoàng Sa và lịch sử huyện đảo Lý Sơn là "Muốn cho con cháu biết được công lao của cha ông mình". Những bộ sưu tập của ông kế thừa từ việc lưu giữ giấy tờ, đồ vật của thế hệ trước.

Từ năm 1975 ông bắt đầu tìm hiểu, đi sâu vào việc sưu tầm cổ vật. Nhiều cổ vật do dân đảo phát hiện khi thay đất trồng tỏi, lúc đầu nhiều người dân không biết được sự quý giá của những đồ vật này, ông Thoại Tuyền đã "linh cảm" và phát hiện được sự quan trọng của chúng. Ông Tuyền đã đến chỗ người dân đào được cổ vật, xin mang về, cất giữ cẩn thận. Việc sưu tầm cổ vật không chỉ là vì gia đình ông, mà còn bởi vì huyện đảo Lý Sơn. Ông Tuyền còn kể thêm, nhiều khi ông phải bỏ tiền ra mua các cổ vật vì không muốn công lao của cha ông bị thất lạc…

Đến nay ông đã có gần 1.000 mẫu vật trong bộ sưu tập của mình như bộ sưu tập cổ vật Sa Huỳnh; sưu tập tư liệu bài báo về Hoàng Sa, Trường Sa, Lý Sơn; bộ sưu tập tiền xu; tượng Chăm; bộ sưu tập ấn tín, các văn bản Hán Nôm do ông bà để lại… Trong đó có những cổ vật được xác định từ 2.000 đến 3.000 năm trước, có những tài liệu hết sức quý giá như văn bản về việc vua Gia Long phong thần cho những người có công đi Hoàng Sa…

Ông Tuyền luôn khuyên nhủ con cháu trên đảo phải coi việc học là hàng đầu, không chỉ học để lập thân, mà còn bởi vì chỉ có học mới hiểu biết được những giá trị văn hoá của cha ông để mà tri ân và lưu giữ. Muốn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ dân tộc thì trước hết phải bảo vệ, lưu giữ những giá trị văn hóa, di sản của cha ông để lại.

Trong thời gian vừa qua, ông đã tặng nhiều hiện vật có giá trị cho Bảo tàng tỉnh. Ông tâm sự: "Tôi sẽ tiếp tục công việc sưu tầm và lưu giữ cổ vật, để con cháu trên đảo và khách từ xa đến có cơ hội tham quan và tìm hiểu về văn hóa Lý Sơn. Nguyện vọng của tôi là sẽ được cống hiến những bộ sưu tập của mình cho Nhà nước để những giá trị truyền thống, công lao của cha ông được nhiều người biết đến, và con cháu trên đảo sẽ tiếp tục công việc tôi đang làm…"

Bảo Hòa
 
Nguồn tin: Báo Quảng Ngãi

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2009

Thư viện gia đình của nhà GS Phạm Đức Dương


Vị giáo sư và thư viện gia đình

TP - Sáng vẫn cặm cụi lên giảng đường dạy sinh viên, tối về miệt mài với những công trình nghiên cứu, Câu chuyện về những cống hiến cho khoa học của GS.TS Phạm Đức Dương là những kỳ tích.

43 năm và 3 viện nghiên cứu


Giáo sư Phạm Đức Dương và thư viện sách gia đình của mình
Năm 1963, GS Dương tốt nghiệp khoa Ngữ văn (ĐH Tổng hợp) rồi sang học tiếp ở Nga, làm Trưởng ban Ngữ âm và Ngôn ngữ dân tộc. Ý tưởng xây dựng Viện Ngôn ngữ học được GS Phạm Đức Dương nung nấu từ những năm đó. Năm 1970 về nước, nhờ những kiến thức được học ở Nga, ông cùng cộng sự bắt tay ngay vào việc xây dựng Viện Ngôn ngữ học. Sau một năm Viện Ngôn ngữ học, thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước ra đời.

Đến năm 1975, đất nước thống nhất, chưa kịp nghỉ ngơi GS lại được cấp trên giao nhiệm vụ mới “xây dựng Viện Đông Nam Á tạo điều kiện thiết lập mối quan hệ với các nước trong khu vực”. Công việc xây dựng Viện được GS Nguyễn Khánh Toàn (Viện sĩ-Chủ nhiệm UBKHXH VN lúc bấy giờ) giao cho GS Dương triển khai.

GS Dương nhận nhiệm vụ với những khó khăn chồng chất “không con người, không tài liệu… đặc biệt khó khăn nhất là không có phương pháp. Xây dựng một ngành khoa học mang tính khu vực đòi hỏi phải có được sự tương quan toàn diện, tổng quan về các lĩnh vực văn hóa, khảo cổ, ngôn ngữ, văn học…, sự giao thoa giữa văn hóa các nước trong khu vực”- ông nói.

Khó khăn nối tiếp khó khăn, lần lượt những người đương nhiệm các chức Trưởng ban ngành Đông Nam Á học Việt Nam (GS Cao Huy Đỉnh) mất, Phó ban (GS Phan Gia Bền) chuyển công tác vào thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả công việc chồng chất một mình GS Phạm Đức Dương gánh vác, hết làm Trưởng, rồi Phó ban ngành Đông Nam Á học Việt Nam.

“Trong bối cảnh bao cấp một mình anh Dương đã phải tự tìm và thuyết phục những chuyên gia, GS về làm không lương cho Viện như GS Phan Ngọc, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, rồi lặn lội vào Nam, đi các tỉnh khác tập hợp sách xây dựng thư viện cho Viện ĐNA. Khi đã có cơ sở vật chất GS lại phải trăn trở, mày mò để xây dựng hệ thống phương pháp nghiên cứu”. Phó GS Trần Quốc Trị (Phó Chủ tịch Hội Khoa học Đông Nam Á) cho biết.

Năm 1983, Viện Đông Nam Á được thành lập, GS Phạm Đức Dương trở thành Viện trưởng đầu tiên. Chưa dừng lại ở đó, nhận thấy cần nhân rộng ngành Đông Nam Á học, đưa vào giảng dạy ở các trường đại học cho sinh viên, GS Dương còn ấp ủ lập Hội Khoa học Đông Nam Á.

GS Trần Quốc Trị nhớ lại: “Đây là tổ chức phi chính phủ vì vậy hoàn toàn không có sự hỗ trợ của Nhà nước, thầy Dương đã căn dặn chúng tôi “mọi người phải đặt cho mình “bốn chữ tự”: Tự bày lấy công việc mà làm; tự tìm người làm đội ngũ nghiên cứu; tự kiếm lấy tiền mà hoạt động; tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bốn cái “tự” ấy đặt ra áp lực lớn, đòi hỏi lớn, nhưng chính vì vậy tất cả đều phải có quyết tâm rất cao”.

Năm 1997, mong muốn của GS Dương trở thành hiện thực, Hội Khoa học Đông Nam Á được thành lập, ông làm chủ tịch hai khóa đầu tiên. Thời gian sau đó một mình GS lặn lội với những chuyến thực tế, điền dã dân tộc tìm tài liệu nghiên cứu, đặt quan hệ, mở các cuộc hội thảo, trao đổi văn hoá với các viện, trung tâm nghiên cứu về Đông Nam Á trong khu vực và thế giới.

Thư viện nhà phục vụ công cộng

Căn gác nhỏ của GS được tận dụng tối đa để chứa sách, trông cơ ngơi sách đồ sộ với gần một vạn đầu sách ít người tin rằng ban đầu chỉ vẻn vẹn có… 13 cuốn. “Đó là vào năm 1973, thời điểm tôi bắt đầu bước vào nghiên cứu về Đông Nam Á, sau này sang Nga học, tôi xin được mấy ngàn cuốn, rồi sang Mỹ xin thư viện Quốc hội Mỹ, năm 1975 tôi tiếp tục vào miền Nam tìm sách, được khoảng ba, bốn tấn gì đó rồi gửi tàu hải quân chở ra Bắc. Tất cả số sách đó đều được chuyển vào thư viện của Viện nghiên cứu Đông Nam Á”-Giáo sư Phạm Đức Dương kể lại.

Tám năm mở cửa, thư viện của GS chưa ngày nào vắng bóng sinh viên đến đọc sách, nghiên cứu tài liệu. Hàng tuần căn gác nhỏ ở khu tập thể KHXH thầy trò tụ hội uống trà đọc sách “sách là niềm vui của tôi từ nhỏ, bây giờ được chia sẻ với sinh viên niềm vui đó được nhân lên nhiều lần”- Giáo sư tâm sự.

Thư viện của GS Phạm Đức Dương ngày càng có sức hấp dẫn sinh viên vì đến đây, ngoài việc được đọc những cuốn sách hay, sinh viên còn được GS hướng dẫn cho nhiều thứ như làm tiểu luận, làm luận văn, phương pháp tiếp cận văn hóa, tổ chức seminar về khoa học…

Căn phòng GS chia làm ba ngăn thì cả ba đều kê sách kín chỗ, tất cả đều được phân loại, dán số thứ tự, ghi tiêu đề, lưu vào máy tính cẩn thận “làm như thế sinh viên đến tra sách, cần cuốn gì có thể tìm rất nhanh”-GS giải thích.

Trên 7.000 đầu sách GS đang lưu giữ có nhiều bộ toàn tập cả sách trong nước và nước ngoài, sách cổ và sách hiện đại. Có thể liệt kê một vài bộ như tuyển tập trọn bộ Lịch sử tư tưởng phương Đông, Tuyển tập Mác, Tuyển tập Lê Nin, Phan Bội Châu, Tấn trò đời… và nhiều bộ sách Nga, Pháp, Trung Quốc…Trong số đó còn có hàng chục bộ sách cổ rất quý mà thầy sưu tầm được nhiều nơi qua các chuyến điền dã ở Tây Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, Lào…

Từng được GS Dương hướng dẫn bảo vệ TS Nguyễn Trí Sơn cho biết “Thư viện thầy còn có hơn 400 luận án bảo vệ tiến sĩ, thạc sĩ về nhiều ngành… mà thầy đã bỏ công sưu tầm, xin, giữ lại sau khi hướng dẫn cho học viên bảo vệ xong trong suốt hơn 20 năm”.

Khi đề cập đến tương lai của thư viện gia đình, GS bộc bạch “Tôi dự định sau khi nghỉ quản lý, tôi sẽ xin một ít tài trợ, tu bổ nâng cấp cái “tủ sách” nhỏ này, rồi chuyển giao nó cho Viện Khoa học Đông Nam Á sử dụng. Tri thức mình không thể giữ làm của riêng được, nó cần được chia sẻ cho mọi người”.

Lâm Hoài

Nguồn: Tiền phong online

---------------------

Địa chỉ nhà GS Phạm Đức Dương: nhà số 2 C4, Khu tập thể KHXH&NV, Kim Mã Thượng, phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 04 3762 9128
Email:phamducduong1030@yahoo.com

Bài liên quan:
GS TS Phạm Đức Dương - thầy tôi
Chân dung GS Phạm Đức Dương