Hiển thị các bài đăng có nhãn Linh thần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Linh thần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

SỬ PHẢ TRANG ĐẠI NGẪU

bản tài liệu của dòng họ Lê Như ở Quỳnh Khê, Quỳnh Phụ, Thái Bình.
Lê Như Trượng ta là quan Điều hộ lục quân (quan quân y) nay nhân ngày giỗ tổ 2 tháng 9 năm Canh Ngọ đời vua Tự Đức thứ 23 (năm 1870) ta thỉnh truyền nguyên bản do cụ tổ biên dịch rằng:

1 - Nay là ngày hè tháng 3 năm Tự Đức thứ 11 tức tháng 4 năm 1858 đời vua Xuất Đế Chiêu Thống định đúng giờ ngọ ngày Thanh long Hoàng đạo sai quan triều Phan Thanh Giản coi việc sửa chữ Quốc ngữ, quan Vệ Pháp ta cùng quan Pháp Sư huyện Ngự Thiên phủ Tiên Hưng – Thái Bình được quan Phan Thanh Giản mời về Phủ Triều yết toạ việc chữ Hán, chữ Nho, chữ Quốc ngữ cho muôn đời sau. Ta cùng quan Ngự Thiên về khao đãi lộc vua cùng cùng thuyết trình lên cửu quan của phủ xong ta về đây thắp hương tại Cấm đình, cùng nhất chùa, tam miếu xong lại hội tụ các quan cùng về đây ngẫm về mùa xuân 1809, thấm thoát gia nhân, tướng sĩ anh em về đây hưởng lộc sinh sống nơi đầm lầy dân cư thưa thớt này, ta rời bỏ chức Dận Quận công Trấn thủ Đốc lãnh khu Trung Châu Bắc Kỳ đã 49 năm (1809 – 1858) hôm mà cùng anh em tọa lại ngày tháng năm, năm Tỵ 1809 khi ta cùng anh em là đoàn cuối cùng cắm sào ngoài sông đã cùng mấy anh em có chữ theo Sắc Chỉ tìm đến nơi đây mang lư hương đồng đen hiến kính thắp hương, thị sát Dư địa chí. Nghiên cứu đất đai, phong thổ, thần sử, địa lý nơi thần đất Chạ Miễu này và hôm nay nhân dịp Triều đình ban lệnh sửa chữ Quốc ngữ ta trình Hương lý, Làng Chạ, thắp hương trước Phả thần làng dịch 3 tấm bia đá gọi là Sử làng để truyền bá cho làng Chạ con cháu muôn đời sau hiểu về Sử làng kính ứng mà vun đắp cho cung cấm Chạ Miễu linh thiêng, khói hương tôn nghiêm mãi mãi. Từ chữ Hán dịch sang chữ Nôm con cháu thông tuệ rằng:

2 - Thần tích sử phả làng Đại Ngẫu được khắc trên ba tảng đá lớn, ngoài ra còn có ba bài vị, Tam vị Đại Vương và trong cung cấm đình Đại Miễu Ngẫu Trang còn có ba cuốn lớn là Sắc phong mà Đinh Tiên Hoàng ban cho Tam vị Quan Công phò vua dựng nước, lập Ngẫu Trang năm 968, phả này cũng có ghi trong Lễ bộ chính bản Ngọc phả thời vua Đinh hiệu là Đinh Tiên Hoàng cùng Tứ thần Trần Lãm hiệu là Trần Minh Công gốc Kiều Hoa cố hương tại Kỳ Bá phủ Thái Bình. Phả này truyền Thần tích rằng:

Từ thuở xa xưa nước Đại quốc là con cháu Lạc Hồng con Rồng cháu Tiên, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra 100 trứng sau nở thành 100 người con trai, 50 con theo mẹ xuống biển, 49 người theo cha lên núi, còn người con trai chui ra khỏi vỏ trứng đầu tiên được cha mẹ để lại cho lên ngôi Hoàng đế cho tên là Lạc Long Quân, hiệu là Vua Hùng hay gọi là Hùng Vương đặt tên đất nước là Văn Lang, thế rồi qua 18 đời Vua Hùng qua 2000 năm đều xưng là Hùng Vương đến đời thứ 19 không có hoàng tử kế vị Thục Phán là cháu chắt kế ngôi vua hiệu là An Dương Vưong đổi tên nước là Âu Lạc được an hoà 50 năm thì bị Triệu Đà thống trị xâm chiếm gần 400 năm. Nhà Thục mất, đất nước ta xuất hiện nhiều anh hùng nổi lên chống giặc xâm lăng lên ngôi giữ nước được vài năm rồi lại tan rã, bọn giặc phương Bắc thay nhau đô hộ nước ta mãi đến năm 939 có anh hùng Ngô Quyền ở gần Tích Sơn động đuổi ngoại bang dẹp yên trăm họ, yên hưởng thái bình rồi Ngô Quyền lâm bệnh nan y, giặc ngoại bang phương Bắc lăm le bờ cõi, bên trong thì 12 sứ quân nổi lên với cường chí thắng làm vua thua làm giặc. Nước non từ rừng núi đến đồng bằng loạn lạc, trăm họ đều thống khổ lầm than kêu thấu trời, rồi một ngày lòng trời muốn yên dân, điều lành xuất hiện ba sự kiện họ Phạm Công:

+ Thời ấy khoảng chừng sau thời Ngô Quyền nhiều năm ở đất Ứng Hoà, huyện Hoài Ân, Tích Sơn Hương động, Yến Vỹ trang có một người dòng dõi nhiều đời làm thuốc, văn chữ thông tuệ, đức hạnh hiền hoà, bẩy đời tu nhân tích đức, thiện nghĩa lấy nghề thuốc xây dựng cơ nghiệp và giúp người khó, tên Hoàng họ Phạm Công vợ là Trương Thị Trạch, gia cơ khang thịnh, vợ chồng thuận hoà tiết nghĩa nhưng ở tuổi 50 vẫn chưa có con, vợ chồng than thân trách phận muộn mằn, rồi tịnh chay tịnh khiết, mua sắm lễ vật đến Tích Sơn Hương động dâng hương nơi cửa Phật đài, khói hương nguyện cầu xin hiếu tử nối dõi tông đường. Hai vợ chồng tịnh thân ăn chay niệm Phật bẩy ngày bảy đêm. Trời tháng cuối đông mưa rét, lại có điềm lạ sấm chớp lưng trời. Đến canh ba mệt quá ngủ thiếp đi ngoài cửa động, Công ông mơ thấy giữa đêm mưa một vầng hào quang rực rỡ trên đài cao, có 10 vị Bồ tát giữa có Ngọc Hoàng Thượng Đế đang ngự, bên tả có Bát Bộ Kim Cương, bên hữu có Thập Điện La Hán, nghe có lời phán rằng: Nay thiên đình triệu bát thần chư vị tám phía mười phương tới về việc nước Nam bang rằng: Nhà Đinh là vua, nhà Nguyễn làm phụ chính bách thần, chư vị đồng thanh nói: Bái phục! bái phục! nhưng còn Phạm gia nô nhất hào chi ác, mười đời ở thiện đã trọn đường trung hiếu ta cho ba sứ giả xuống đầu thai hầu hạ nhà Phạm Công, giúp vua Đinh lập nước an dân.

Phạm Công bừng tỉnh dắt vợ trèo đèo lội suối về bản doanh ngày đêm hương khói tụng niệm và làm việc thiện giúp đời. Rồi Trương Thị có mang. Đến mùa thu tới vào canh ba đêm ngày mùng 1 tháng 8 trời mưa to gió lớn sấm chớp lưng trời, cả ngày hè lao động mệt mỏi nên Công Hoàng ngủ thiếp đi rồi mơ thấy: Trước cửa nhà là ngã ba sông có một con rồng nằm chắn ngang như một chiếc cầu kỳ diệu, trên cầu có ba người áo xanh, áo đỏ, áo trắng đi tới đang ôm nhau cười ha hả, chỉ vào nhà Phạm Công nói: Chúng ta được Thiên Hoàng sai mang Bút thần, Voi thần, Đao thần ngụ tại Ngẫu Trang ấp làm hiếu tử nhà họ Phạm đại nhân, đại nghĩa và hưởng phúc trần 100 năm, ngàn năm ăn lộc Thánh hiền nơi đó cùng tam vật thần ban. Có tiếng sấm động, Công Hoàng giật mình trước giấc mộng Thiên trao rồi chạy ra sân thấy một thanh Long đao sáng long lanh, một cây bút dài hơn mười thước, một Ông Voi bằng đá quý trong ruột đầy hoa văn ngũ sắc, hai vợ chồng quỳ khói hương lạy tạ Thiên Hoàng rồi bí mật cất dấu các của quý trời cho.

Đến giờ Ngọ ngày 2 tháng 8, Trương Thị sau mấy giờ liền đau đớn thì sinh ra một cái bọc lớn chui ra ba người con trai tuấn tú.
- Một người mặt xanh như nam, trên đỉnh đầu có nốt son hình chữ Thiên Tướng Uy Linh, ông đặt tên cho là Phạm Công Đinh.
- Một người mặt trắng là Phạm Công Thanh.
- Một người mặt đỏ là Phạm Công Hoài.
Vợ chồng Phạm Công chăm lo cho đàn con khôn lớn đến năm 3 cậu lên 5 tuổi thì Trương Thị mắc bệnh qua đời. Cuộc sống cha con rất khó khăn, rồi loạn lạc triền miên, người cha làm mọi việc để nuôi con khôn lớn, các cậu ngày đêm chăm chỉ học hết chữ nghĩa của cha rồi Phạm Công cho 3 con lên núi học chữ, học võ. Ba người con hiền thảo, hiếu nghĩa được truyền tụng khắp vùng.

Ở trấn Hương Tích có một người tên Công họ Phan là một đảng trong 12 sứ quân thấy gia cảnh Phạm Công liền muốn kết thân, khuyên Phạm Công đưa 3 con đến bổn doanh họ Phan. Họ Phạm ôm các con vào lòng nói rằng: "Nhà ta bao đời tu nhân tích đức nay gặp kẻ hổ lang đâu phải kẻ trung lương mà mưu việc lớn được. Rồi các đảng quanh vùng nhiễu nhương. Cuộc sống lầm than chẳng trừ ai, lại Phan Công quấy ải nên Phạm Công thu liệu tài sản, lập đàn hoá thân cho tổ tiên mười đời, rồi quây cất đặt bia đền tưởng nhớ, rồi dẫn 3 con hương khói bái biệt tông đường rồi cùng nhau xuôi thuyền xuống núi quay mũi chèo bái tạ quê hương, tìm đất Xuân Phong thơm hương cư ngụ dài lâu.

Đã bẩy ngày bẩy đêm, thuyền bồng bềnh theo tay chèo xuôi xuống miền Đông Bắc. Gặp ngày tháng 6 con nước lộng dễ chèo cha con họ Phạm đã đến Sơn Nam Đạo nơi ngã ba sông địa đầu huyện Quỳnh Côi, phủ Tiên Hưng, cha con vào trọ tại miếu tổ thần gần ngã ba sông. Nhìn tứ phương nơi đây đều là đầm lầy lau sậy, dân cư thưa thớt. Ngẫm lại giác mộng ngày nào, nay cha con ta đã trôi nổi đến nã ba sông này còn biết đi về đâu, tìm đất Xuân Phong nơi nào, trong lòng Phạm Công bối rối khi nhìn đàn con đang tràn đầy sức sống nghĩ cần phải có nơi cho các con văn ôn võ luyện rồi chạy vào miếu tổ, hương khói tụng niệm, cầu nơi đất rồng thiêng an cư lập nghiệp, đên khuya thao thức mãi rồi Phạm Công mơ màng thấy có vị thần đất có đôi mát sáng như hai vì sao dắt tay qua đường dài 500 thước về phía Đông Bắc. Đến một ngôi miếu nhỏ chung quanh là miếng đất vuông giống như chữ đất thần có cây dâm bụt cùng cây ruối cổ bao bọc chung quanh rộng đến 3000 thước vuông, tỉnh dậy Phạm Công bàng hoàng với giấc mộng.

Khi ông mặt trời tỉnh dậy thì cha con họ Phạm thắp hương bái tạ miếu tổ, nhằm thẳng hướng Đông Bắc, thuyền xuôi được quá 500 thước đã thấy trước mặt có một ngôi đền miếu ở giữa vuông đất cao, cây cối um tùm, khói hương nghi ngút, trên đài cao có Phật Bà nghìn mắt nghìn tay đang tọa - chung quanh hàng cây cổ thụ bao bọc đàn chim hàng ngàn con làm tổ kêu ríu rít, cha con cập thuyền làm lễ bái yết rồi Phạm Công nói với các con rằng: Đây chính là đất Xuân Phong của cha con ta sống trần tục một trăm năm tại đất này. Rồi cha con cùng nhau phát cỏ, cuốc đất đắp nền dụng nhà từ đường, rước bài vị tổ tiên, lập đài đặt ba vật báu thánh ban để hương khói hàng ngày. Rồi tìm đến quan Khinh thị phủ Tiên Hưng bái nhập gia cư. Cha con cùng tra ngô, tỉa lúa hết những hạt giống ngô, lúa mang theo ở các nơi đất cao. Đặt đó bắt cá ở nơi đất trũng. Ba anh em xin cha cho đặt ba lều trại trên đất địa chí ở 3 nơi để phân công nhau coi giữ đất đai theo địa thế con rồng cuộn để cùng trai tráng trong vùng luyện tập võ nghệ.
- Lều trại phía Bắc làng do Đinh Công coi giữ.
- Lều trại phía Nam do Thanh Công coi giữ.
- Lều trại phía Tây Nam do Hoài Công coi giữ.
Mời nho sinh tụ họp và và được đặt tên nơi này là ấp Ngẫu Trang nhiều nho sinh võ nghệ cao cường đến ngồi ngắm trăng. Thời ấy 12 sứ quân đánh nhau liên miên, dân tình đói khổ, bệnh tật, sống lầm than, trăm họ khốn cùng. Lòng trời xui khiến có ông Đinh Bộ Lĩnh tuổi trẻ, con ông Đinh Công Trứ một tướng triều Ngô, cha chết, Người theo mẹ về cày ruộng trồng lúa tại đất Hoa Lư đứng lên hợp với quân Đằng châu Kim Động phủ Hưng Yên, chiếm đất Ái Châu làm cát cứ, tụ họp quân sỹ khắp mấy vùng, có Nguyễn Bạo, Đinh Lý , Trịnh Thân làm tướng võ, lại thấy tướng Trần Lãm là tướng giỏi võ có hàng ngàn quân lính, gốc người Kiều Hoa liền tôn vinh là bậc thầy và xin hội quân.

Ngày mồng 2 tết năm ấy có tướng giỏi võ mưu cao - thầy trò hội tướng đi thị sát Hoa Lư phủ, Thái Bình phủ, Hưng Yên phủ. Về đến Ngẫu Trang trời đổ mưa to gió lớn nước dâng cao, thầy trò cắm thuyền nghỉ tại nơi miếu thờ, thắp hương an toạ độ đường. Đến canh ba, ba anh em họ Phạm đang ở ba lều canh nhìn về miếu chính (sau này Tam Công tôn tạo thành nơi thờ Ông Voi thần, thờ Phật gọi là chùa Ngẫu Trang) thấy có đám mây vàng bay thấp, áng lóng lánh thì cùng nhau chạy tới, kháo nhau rằng: Có Thánh nhân đến, liền dắt nhau vào nơi tôn nghiêm, ngó thấy một người ngủ bên trên có rồng vàng ấp bên tả, bên hữu; ngó phía dưới có nhiều người đang ngáy như sấm. Liền về sắm lễ vật hương khói ra miếu chính vừa lạy vừa kêu. Đúng giờ Tý họ Đinh tỉnh giấc ra hỏi: Nhà ngươi đây họ tên gì mà cảm phục Đinh Bộ ta?

Cả nhà họ Phạm sụp lạy mà thưa rằng: Tam Công ta nghe chí đức của Bệ hạ từ lâu, nay đã gặp xin kính lạy, kính lạy. Rồi kính lạy cha xin theo Bệ hạ để được sai bảo, muốn được cùng chư thần khôi phục cảnh Nam Bang.
Đinh Bộ Lĩnh cả cười mà rằng: Kính quý, kính quý! Rồi cùng nhau thắp nhang; bàn thổ sự Nam bang mấy ngày liền chưa hết.

Lúc này một sứ quân của Phòng Yết đóng ở Đằng Châu có gia nhân mật báo. Biết họ Đinh đang hội tướng ở ấp Ngẫu Trang. Canh 3 kéo vây định diệt họ Đinh. Lại có nho sinh cấp báo; Tam Công dẫn anh em nho võ đến giải vây cứu Đinh Bộ Lĩnh ra miếu lều Đông Nam, cùng nho tướng bơi thuyền dẫn Ngài phi hành về sông Cầu Tụng chí bái biệt ngày thanh sạch đón nghênh tam quân cùng quân nho sinh thượng võ về hội tụ.

Phòng Yết không bắt được nhà Đinh, cho quân quay lại cướp phá ấp Ngẫu Trang bị Tam Công cùng hội quân đánh đuổi, bỏ hết của cải người thương vong, lại dùng thuyền chạy thoát thân. Anh em nho sỹ cùng nhau kéo xác giặc cỏ chất thây trên gò cao trước Cấm Đình, rồi hô hào lấp đất lên, từ đó Tam Công gọi đó là gò Đông Nam cửa Cấm là Đống Giặc. Còn các nho sinh đã bỏ mình cứu họ Đinh thì đem xác về cửa Cấm mai liệm, tế lễ 7 ngày, 7 đêm rồi đem táng tại cồn đất phía Tây Bắc làng và Tam Công đặt tên cho đất đó là Cồn Đất Keo Sơn Gắn Bó.

Tam Công chọn ngày bái biệt cha cùng hội tụ quân sỹ quanh vùng, đúng ngày hẹn đến dưới trướng Đinh Công. Đinh Công thu lập được nhiều tướng giỏi từ Ái Châu đến các tù trưởng, các hào kiệt, ấp điền cùng đồng lòng dấy binh tôn Đinh Bộ Lĩnh làm vua, vua Đinh phong cho:
- Nguyễn Bạo làm Đại nguyên súy.
- Đinh Lý Trịnh Thân làm Đại tướng quân.
- Phạm Công Đinh làm Thống lĩnh thủy bộ tiền quân kiêm Điều hộ học quân.
- Phạm Công Thanh là Pháp sư mưu thần Tham tán.
- Phạm Công Hoài là Tham tán mưu thần
cùng 4 vạn quân chia làm 3 đạo đi dẹp sứ quân toàn thể Nam Bang.

Tam Công dẫn hai vạn quân đi dẹp Đằng châu sứ quân Phòng Yết là mạnh nhất, nghĩa quân thủy bộ từ hai phía đổ vào oai phong lẫm liệt đánh tan cát cứ Đằng châu bắt sống Phòng Yết, các sứ quân khác đều bị đánh bại và tan rã. Đinh Bộ Lĩnh hạ lệnh hồi quân. Hội đồng chủ tướng khao thưởng 3 quân khai khúc khải hoàn. Đinh Bộ Lĩnh tự xưng làm vua lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng* đóng đô ở Hoa Lư, Trường Yên, xuống chiếu yên dân dựng nước. Trần Lãm tức Trần Minh Công được vua nhận làm tứ thân. Trần Minh Công xin lui về Thái Bình phủ, Kỳ Bá tổng để làm ăn sinh sống khi nào thác thì phong cho làm Thần Hoàng nơi miếu tổ Kỳ Bá rồi phong cho:
- Phạm Công Đinh là Thượng Thiên Đại Vương.
- Phạm Công Thanh là Thanh Lãng Đại Vương.
- Phạm Công Hoài là Hoài Nhân Đại Vương.
Ban cho Đinh Công chức Viên quan thị bộ Thái y viện, Thanh Công chức Pháp sư quan thầy, Hoài Công chức Võ quan Đại Vương.
Rồi ban cho một cờ thần 4 người khiêng cho thuyền thủy, ngựa bộ, ban cho các trang sỹ có công. Ban cho Hoàng Công có công nuôi dạy Tam Công là Thân vương. Rồi ban Sắc Chỉ cho Tam Công cùng 50 thân sỹ hưởng thanh bình tại ấp Ngẫu Trang. Quân tướng về nơi cư ngụ vinh quy bái lạy cha già rồi đem lộc vua ban xây dựng nơi đền miếu cổ thành chùa thờ phật của ấp, xây cấm đình để làm nơi thờ thần đất và cất giữ Sắc Chỉ vua ban. Rồi cho đào giếng mắt thần hứng nước mưa từ mái cung cấm, đất mắt rồng, mũi rồng cho dân chúng lấy nước thượng thiên dùng cùng ngũ cốc. Xây dựng lại 3 ngôi lều trại thành 3 miếu thờ thần linh, thần xà giữ đất ấp làng. Công Hoàng bàn giao Ông Voi cho Đinh Công. Giao thanh Long Đao cho Hoài Công. Giao cây bút cho Phạm Công. Rước lên đài thờ trên cung cấm, cùng cờ xí vua ban, rồi mời các quân sỹ nay đã là giai đinh trong ấp về khao đãi và bái biệt cư dân đưa cha già vãn hồi Yến Vỹ trang cố hương để bái gia tiên thân mẫu.

Cha con đang vãn cảnh sông núi điệp trùng nơi cố hương. Nơi Tích Hương sơn động Yến Vỹ, nơi thiên hà bình sơn chưa hết 3 mùa xuân thì than ôi thân phụ đã về với tiên tổ ở tuổi 90. Tam Công thờ khóc cha thảm thiết rồi đặt cha nơi đỉnh núi phía Tây Nam nhìn về ngã ba sông nơi nhà Đinh đóng cố đô sầm uất - bên cạnh mẫu thân đi sớm rồi dựng 1 thao lưu ghi nhớ công ơn cha mẹ để thường xuyên đèn nhang cúng tế.

Hết 3 năm tang cha, Tam Công bái lạy cha mẹ tổ tiên, quê hương rồi trở về ấp Ngẫu Trang Yến Vỹ. Nơi cư ngụ mà 3 vị đã lớn lên và lập công cũng từ nơi ấy. Tam Công trở lại chốn xưa, phân công nhau, người coi địa chí dinh lũy, người dạy chữ thánh hiền cho dân, người làm thuốc để cứu giúp người khó, khuyên răn dân y việc canh nông cấy cày, đời sống nhân dân được yên thịnh, 3 ngài chia nhau ngự 3 nơi miếu thần thanh thản vịnh thơ rằng: Trướng gấm ngây hình Hoa Lư dây Gác tía lầu trang tự Yến Trang Đất thiêng hun đúc thiên mệnh nhỏ Một chốn an cư thật dài lâu Nhớ công ơn son sắt của Tam Công, hàng năm Đinh Tiên Hoàng lấy ngày đầu đến ngự đêm tại nơi đền miếu ấp Ngẫu Trang mồng 2 tháng giêng âm lịch. Ngày vua Đinh được giải vây bằng gươm giáo của nho sinh do 3 anh em họ Phạm cầm đầu, vua Đinh sai sứ thần đem lễ vật: Củ dứa gọi là cục phết, bông lau làm cờ đến Ngẫu Trang cúng tế đất trời, thông công cho Tam vị Đại Vương là con trời xuống giúp vua lập nước yên dân, ngài cho mở yến tiệc khao đãi dân binh, mở hội cho các dân binh múa gươm giáo, tranh đoạt đầu giặc đem đến đống phết hành thích, phất cờ lau để tưởng nhớ những ngày chinh chiến vua tôi lén lách trong lau sậy diệt giặc loạn để nhớ ơn Tam Công cùng chư vị anh hùng hồn siêu phách lạc hâm hưởng phù hộ cho ấp thôn đầm ấm trù phú. Thấm thoắt mấy chục năm đã qua Tam Công đã quá tuổi lên lão - vào những ngày ở tuổi cổ lai hy Tam Công đem sổ thiết lập cung số ghi tên làng vào bia đá tích thần, chọn quẻ càn khôn, chọn ngày Mão giờ Dần đem táng tứ vật thần ban về với đất vĩnh cửu cũa đất Yến Vỹ trang Đại Ngẫu giữ yên ấm địa chí vĩnh cửu ngàn đời sau rằng:
- Tù trưởng làng cùng giai đinh rước cờ ra táng tại cồn đất cao nhất tại cổng làng và đặt là đống Lá cờ.
- Giai đinh theo Đinh Công mang Ông Voi đã được yểm đảo ra táng tại phía Tay Bắc làng, đầu chầu về Đô La Thành, đuôi là chính đất Đại Ngẫu
- Thanh Công cùng giai đinh mang cây bút thần cắm dưới biên giao phía đông làng và phán rằng: "Một nghìn năm sau đất Yến Vỹ này có nhiều quan nho, quan y hiền hoà. Ai thất đức có làm quan cũng khỏi luân hồi".
Còn vị Hoài Công không táng thanh đao để phát quan võ lại gác lên đài miếu phía Tây Nam.

Tam Công chọn ngày lành tháng tốt cùng gia nhân bô lão trong làng, ấp mở tiệc lập đàn tế lễ cúng tiến đất trời, khao đãi ấp Chạ. Có dân binh cùng các phủ đường ăn uống với dân bản Chạ, xong cuộc đàm đạo vui mừng còn chưa vãn hồi thì trời đất bỗng u ám, mây đen mù trời, mưa to gió lớn, sấm chớp lưng trời. Thấy điều lạ, Tam Công vái trời đất, vái bài vị cha mẹ, vái cung cấm đình làng, vái về đất Hoa Lư, Trường Yên. Đứng giữa bờ giếng mắt rồng làng ấp Ngẫu Trang vái lên trời, bỗng có đám mây hồng vàng phủ kín sân cung cấm ấp Ngẫu Trang, đám mây bay bồng bềnh lên cao dưới ánh sáng chớp đan vào nhau sáng lưng trời. Trời bỗng quang, mây tan, mưa tạnh trăng sáng vằng vặc, Chạ ấp cùng bô lão đổ ra sân thì than ôi Tam vị Phạm Công đã nan y về trời, dân làng vái lạy trời đất minh thiêng rồi sai người phi mã thỉnh tới kinh kỳ. Vua sai sứ giả cùng thầy pháp sư đến Ngẫu Trang lập đàn cúng tế cầu siêu tắm rửa thi hài Tam Công rồi sai 2000 gia binh dã vu hồi quê: Trang phục lễ chỉnh tề cùng gươm giáo chắc tay thỉnh lễ bên linh cữu 3 ngài đủ 7 ngày 7 đêm rồi đem ra táng tại gò đất Miễu gọi là gò Tam vị Thánh Hoàng yên nghỉ vĩnh hằng. Nơi cung cấm Đại Ngẫu được sứ thần đặt bài vị ba ngài, từ ấy cung cấm đình của ấp Yến Vỹ Đại Ngẫu thờ ba vị anh hùng thời Đinh cùng 3 nơi miếu thờ:
- Miếu Đông thờ Cây Bút.
- Miếu Bắc thờ Ông Voi.
- Miếu Tây thờ lá cờ đều được quan Pháp sư yểm đảo cho dân lưu giữ thờ phụng hương khói tôn nghiêm.

Sau nhiều năm gọi là mãn hạn tang Tam vị Đại Vương, vua Đinh Tiên Hoàng sai Quốc Sứ Thần là đô đốc ngự sử Trịnh Thâu đem quan Pháp sư giỏi chữ Hán cùng cưỡi voi đến Ngẫu Trang phong ban cho Tam vị Đại Vương cùng ba ngôi ngai thờ tại cung cấm đình Yến Vỹ Đại Ngẫu, phong sắc cho làm phúc Thần Hoàng ấp Đại Ngẫu. Ban ấn tín sắc phong thần cho Tam vị Đại Vương hưởng thụ ngàn năm nơi Tam vị lập công, dựng ấp đồng thời sai chuyên chở bia đá cử quan giỏi chữ Hán khắc lưu truyền lưu trữ tên tuổi công danh cha con Tam Công truyền tụng đời sau. Sứ thần cùng dân ấp xây đắp tôn tạo vững chắc lại ba nơi miếu thờ, cho rước bài vị Tam Công về ba miếu thần để nhớ những ngày đầu lập ấp cắm địa chí nơi 3 ngài làm lều coi giữ đất long chầu hổ phục của đất Yến Vỹ Ngẫu Trang. Quan sứ thần cùng dân cư ngụ trong trại ấp tấp nập cả mùa xuân lập thờ. Rồi tịnh thân tịnh khiết sắm sửa lễ vật, lập đàn cầu siêu trên mộ chí Tam vị Đại Vương tại đất Cồn Miễu cùng quân gia binh đã vu hồi quê hương đại trang nghiêm, cúng tế 7 ngày 7 đêm nguyện cầu độ trì linh ứng cho nước, cho dân, niệm bái tạ lễ vua ban Tam Thánh Hoàng, cùng bia đá sắc phong. Từ đó cung cấm đình Đại Ngẫu cùng ba nơi miếu đường hương khói tôn nghiêm, quốc đảo, dân sự, quan, dân cầu niệm uy linh chấn động, linh ứng độ thế an dân, quân binh nơi Chạ Đông cầu tụng có nhiều nho sỹ giỏi theo Tam Công giúp vua dựng nước cũng được phép sao thờ phụng Tam Công nơi miếu đường ấp Trang Ngẫu. Tam vị Đại Vương hiện diện phò vua khai quốc, phù thác về trời độ hưởng lộc Thánh Hoàng tại ấp Chạ Ngẫu minh thiêng.

Đến triều đại nhà Trần, giặc Nguyên xâm lấn nước ta với đức tài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Phụng mệnh sai chỉ của Trần Thái Tông, Quốc Tuấn phái sứ thần Trần Nhi cùng Cao Bá Thần vào cấm đình trình sứ, thắp hương cầu niệm Tam vị Đại Vương độ trì phù giúp vua giữ nước, an dân, đại phá quân Nguyên, bắt sống tướng Ô Mã Nhi. Thắng trận vua Trần Thái Tông phong sắc cho Tam Công: Vị thứ nhất: Linh Ứng Anh Triết Hiện Lược. Vị thứ hai: Anh Vũ Đại Lược Hồng Tài. Vị thứ ba: Thông Minh Tài Đạt Hồng Cận.

Đến triều Lê: Vua Lê sai sứ thần Nhĩ Phong về khói hương cầu nguyện, thần sứ vào cấm đình Ngẫu Vỹ Trang trình lễ vật, trình sứ khói hương nguyện cầu để vua Lê yên dân giữ nước vua Lê Thái Tổ đức độ giỏi giang nguyện cầu linh ứng đã đánh bại Liễu Thăng thiên hạ thái bình khao quân chuẩn tướng rồi sai sứ thần mang sắc phong ấn tín về Ngẫu Trang phong cho Tam Công chức:
Vị thứ nhất: Rực vân tế thể uy linh.
Vị thứ hai: Hùng kiệt hộ quốc an dân.
Vị thứ ba: Phá tế cương nghị anh linh.
Qua các triều đại đời đời dân chúng phụng sự quanh năm hương khói tố hảo ấm cúng uy linh bốn mùa tiến lễ ngày sinh, ngày thác, ngày tuần.

Hoàng triều Hồng phúc cửu thiên mệnh thu nguyệt. Quan Lê Như Trượng dịch tái luận cựu chính sử địa Hán sang Quốc ngữ tán hạ 1858, Thái Bình Tiên Hưng phủ bái cúng. Cũng là ngày Lê Như Trượng tôi cùng quan Ngự sử góp công, góp của xây dựng đình làng thành đình ngũ gian. Nay khánh thành đình cùng ngài Huyện Ngự Thiên phủ Tiên Hưng Thái Bình ngự thiện sau đối sử chuẩn y triện tái tuấn chiếu phả. Sử phả này có trong bộ sử phả của chính sử đô quốc.

Lê Như Trượng gác nghiên ký

3- Kết luận: Lê Như Trượng ta sinh ra lúc thời loạn lạc tại phủ chúa Nguyễn thuộc đất Thuận Hoá nơi đô hội của Trung Kỳ. Ta lớn lên cùng cha mẹ, ông bà nội ngoại ở cố thành Trung Châu Bắc Kỳ nơi rừng sâu núi cao mà người ta gọi là miền sơn cước. Ta lớn lên trong chinh chiến cùng nho chữ được nội ngoại dạy dỗ cho trưởng thành đỗ khoa bảng tại Quốc Tử Giám rồi được vua ban vinh quy về chốn quê ngụ, làm Đô đốc Đồng Trị vệ quốc Thượng tướng Dận quận công Trấn thủ đốc lãnh Trung Châu Bắc Kỳ. Từ 1809 được Sắc Chỉ đem anh em đồng đảng về khu 2 trang Đại Ngẫu và hưởng lộc vua từ đó đến nay. Nay có chiếu vua về phổ biến chữ Quốc ngữ, sau những ngày yết kiến vua, ta về đây trộm nghĩ lòng ta ơn vua phù dân. Ta trình làng xin dịch bia đá làng từ chữ Hán văn sang Ngữ văn. Nay hoàn tất xin kính trình làng lại mời được quan Ngự thiên phủ Tiên Hưng, Thái Bình về ngự thiện chuẩn y triện. Sử này có trong bộ Lễ sử nhà Đinh.



Ta gác nghiên kính kính.

Ngày song thập năm Tự Đức thứ 11 (1858). Lê Như Trượng ký.


Ta là Lê Như Thượng cháu nội cụ Lê Như Trượng, cụ Đốc Trượng mất ngày 2 tháng 9 năm Ất Sửu (1865) hưởng thọ 96 tuổi. Ta sao chép bộ sử sang sách mới để lại cho con cháu y bản cụ dịch. Ngày 2 tháng 9 năm Canh Ngọ. Lê Như Thượng ký. Ta là Lê Như Thực cháu nội cụ Lê Như Thượng, cụ Chánh Thượng sinh năm Sửu Minh Mạng thứ 10 (1829) hưởng thọ 71 tuổi. Do ngày tháng ta xin sao chép y bản sử phả cụ Thượng để lại cho cháu chắt hiểu về gốc nơi cư ngụ. Ngày thượng tuần sơ nhất nhất năm 1942. Lê Như Thực tự Pháp Thắng ký

(Bản này do ông Nguyễn Hữu Hy, số nhà 93 tổ 50 phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội sao in ngày 24 tháng 01 năm 1999).

Lê Thy 

Nguồn tin: vi.wikipedia.org

-------------
Chú thích: Phòng Yết ở Đằng Châu chính là Phạm Phòng Át - Phạm Bạch Hổ

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009

Về lai lịch một vị tướng được tôn vinh ở Đền Miệu

Đền Độc Lôi, còn gọi là Đền Miệu, thờ một vị tướng quân thời nhà Lý có công đánh giặc Tống và Chiêm Thành, Ai Lao. Đền được nhân dân lập để thờ ông khi ông đang sống. Để làm sáng rõ thêm công tích và sự nghiệp vị thần Độc Lôi, chúng tôi xin cung cấp một số tài liệu quý mới phát hiện được.


Tài liệu chữ Hán "Bách thần sự tích" (sự tích 100 vị thần) ở xứ Nghệ, trang 4, có ghi về đền thờ và vị thần Độc Lôi.Thần tích này được ghi chép vào cuối triều Nguyễn. Thần được thờ chính miếu ở Đền Miệu (dưới chân núi Độc Lôi). Người dân ở hai xã Hữu Biệt (nay là xã Nam Giang) và xã Trường Cát (nay là xã Nam Cát) cùng có trách nhiệm phụng thờ. Đền Độc Lôi bị bom Mỹ đánh tan, rất may một số đồ tế khí, tượng, được dân hai xã đưa về hai ngôi đền xã Nam Giang và Nam Cát để thờ. Đáng chú ý, trong các di vật còn lại ở "Chỉ Thiện đàn" (còn gọi là Đền Mĩ Thiện), còn lưu một số bản sắc phong cho vị thần Độc Lôi họ Phạm.

Qua các tài liệu trên, chúng ta chỉ biết thần núi Độc Lôi là Phạm Lãnh binh, tức Lãnh binh họ Phạm, chưa rõ tên thật của Thần, chức vụ của thần là Lãnh binh Phiếu Kị uý, Thượng tướng quân Uy liệt hầu. Thần rất linh thiêng, được sắc phong với nhiều mĩ tự, trợ hiệu để phù hộ cho nhân dân và bảo vệ quốc gia.

Rất may, gần đây có ông Trần Đại Sỹ, một người Việt đang sống ở nước ngoài, là đoàn viên, rồi Trưởng đoàn đoàn trao đổi Y học Pháp - Hoa, nhiều năm công tác tại Trung Quốc. Ông đã có công đi các thư viện lớn ở Trung Quốc để đọc các tài liệu sử học nước nhà, nhất là thời Lý chống Tống. Ông đã gặp hầu hết các gia đình có các nhân vật quan trọng liên quan đến cuộc chiến tranh Tống - Việt để xin đọc gia phả, tài liệu. Ông đã được đọc 2 cuốn nhật ký hành quân của 2 tướng Tổng chỉ huy cuộc xâm lăng Đại Việt (1076- 1077): Quách thị Nam chinh của Quách Quỳ và Triệu thị chinh tiễu Giao Chỉ ký của Triệu Tiết. Ông Nguyễn Bá Mão tóm lược lai lịch của vị thần Độc Lôi, được ghi chép trong các tài liệu do ông Trần Đại Sỹ cung cấp (đã đăng trong Tạp chí Văn hoá Nghệ An gần đây). Chúng tôi xin khái quát lại như sau:

Thần tên thật là Phạm Trọng Y (1052 -1077), chưa rõ quê quán (?). Cha là Phạm Trọng Khâm, mẹ là Quách Thị Phương. Ông mồ côi cha mẹ lúc 7 tuổi, được cậu đưa về nuôi và đổi tên là Quách Y. 10 tuổi cậu mất, ông bơ vơ phải đi ăn xin độ nhật tại Thăng Long. Ông kết thân làm anh em với 6 người khác cùng cảnh ngộ: Trần Di (Vũ Thư, Thái Bình), Dương Minh, Triều Thu (Cao Xá, Nghệ An), Mai Cầm (Vạn Phần, Nghệ An), Ngô Ức (Đường Lâm, Sơn Tây), Tạ Duy (An Lĩnh, Thanh Hoá). Họ được nhà sư Minh Không nhận làm đệ tử và gửi cho Hoàng tử Lý Chiêu Văn làm con nuôi. Họ được Vương Phụ Hoàng của Hoàng tử dạy cho văn võ song toàn. Họ tập luyện ở Hồ Tây và lặn giỏi như giao long. Họ lại được Ỷ Lan phu nhân Lê Thị Yến Loan nhận làm con nuôi và được giới thiệu tài năng với nhà vua. Vua đã ban cho họ mỹ hiệu là "Tây Hồ thất kiệt". Quách Quỳ ghi trong Quách Thị Nam chinh về 7 ông là "Giao Long thất quái" và sách Triệu Thị Chinh Tiễu Giao Chỉ ký lại gọi họ là "Giao Chỉ thất Long". "Tây Hồ Thất Kiệt" đã tập hợp được 500 thiếu niên cùng khổ, đem nuôi dạy họ thành đội quân có bản lĩnh, bơi lội dưới nước như rái cá, có tài thuỷ chiến. Vua Lý Thánh Tông đã ban cho họ mỹ hiệu "Giao Long Tây Hồ". Năm 1069, đội Giao Long theo 7 vị hộ tống Vua Lý Thánh Tông bình Chiêm, lập nhiều công trong các trận Nam Giới, Nhật Lệ, Thi Nại, Phan Rang. Trở về, 7 vị được phong tước bá, giữ chức Đô Thống, mỗi vị được chỉ huy hiệu Thiên Tử Bình. Phạm Trọng Y được giao chỉ huy hiệu Thiên Tử Bình Bổng Thánh. Ỷ Lan thần phi hỏi vợ cho 7 vị, hỏi cho Phạm Y tiểu thư Phạm Phương Tiên, con quan Kinh lược Ân và Sứ trấn Thanh Hoa Phạm Nhật Chiêu.

Một lần dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, Phạm Trọng Y cho quân dừng nghỉ ở Rú Miệu. Vùng Rú Miệu lúc ấy rừng rậm hoang vu, có nhiều thú dữ, ông đã cho quân dùng nỏ lớn mã não, hoàng thạch tiêu diệt hết đàn chó sói, cứu nạn cho dân. Dân biết ơn, đã lập đền thờ sống ông ở Rú Miệu.

Năm 1075, để chặn trước âm mưu cướp nước ta, Vua Lý đã cho quân vượt biên giới tấn công các châu Ung, Liêm, Khâm, Dung, Nghi, Bạch của nước Tống. "Tây Hồ Thất Kiệt" đã theo Lý Thường Kiệt Bắc chinh, lập được công lớn. Bảy vị cùng được phong Đại tướng quân tước hầu. Phạm Trọng Y được phong Minh uy Đại tướng quân, tước Minh Tâm hầu và vợ là Nhất phẩm phu nhân.

Năm 1076, bảy vị cùng quân sĩ đánh trả quân Tống những trận kinh thiên động địa ở trận tuyến sông Như Nguyệt, buộc quân địch phải rút lui. Cả 7 vị và phu nhân "Tây Hồ Thất Kiệt" đều hy sinh oanh liệt ngay tại trận tuyến!

Sau khi hết giặc, bảy vị được truy phong tước Đại Vương, các phu nhân được phong Quận chúa và được triều đình truyền lập đền thờ. Ông Phạm Trọng Y được truy phong Minh uy Lôi trấn Đại Vương và phu nhân được truy phong Trang Thanh Quận Chúa. Nhà vua cho lập đền thờ ông ở Rú Miệu và ban ruộng cho nhân dân địa phương để hương khói.

Đền Độc Lôi sơn thần Phạm Trọng Y bị san phẳng từ lâu, nhưng khu nền di tích còn lại phía trước bãi đá cũ và gần Cầu Miệu, cần được xây dựng lại để tôn vinh một nhân vật có công lao với dân tộc, đất nước. Ông Tổng Giám đốc hãng Bia Sài Gòn, chủ đầu tư Nhà máy bia Cầu Miệu, đã có dự định cho xây dựng lại Đền Miệu. Đấy là việc làm cần được ủng hộ!

Đào Tam Tỉnh - Thư viện Nghệ An

Nguồn tin: Báo Nghệ An điện tử

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

Các vị linh thần họ Phạm (chưa xác định rõ thời nào)

90. Sơn Tinh Ngũ hổ (truyền thuyết về Phạm Nhĩ)

91. Phạm Chấu
Đông Hải đại vương
Uông Bí, Quảng Ninh

92. Phạm Phúc
Trung quân hộ quốc công
Thờ ở Đồng Đầu (Đồng Gàu) xã Dục Tú, Đông Anh, Hà Nội
Sử ghi người cùng tên: năm 1448 Phạm Phúc là đại phu viện thuộc ty Tường hình

93. Phạm Ngọc Thanh
Hậu tiên sư ngành đánh mâm
Xóm Tây, làng Đại Bái, huyện Gia Định, Bắc Ninh
(ông được truyền ngôn có đỗ Tiến sĩ)

94. Phạm Hiếu
Phạm Thành
Phạm Lương

Xã Đặng Xuyên, Ân Thi, Hưng Yên thờ 5 vị đại vương: Cao Sơn, Quý Minh, Trung Hiếu (Phạm Hiếu), Trung Thành (Phạm Thành), Trung Lương (Phạm Lương)

95. Phạm Quốc Đô
Tổng An Lương, phủ Nam Sách, Hải Dương thờ 2 vị đại vương: Phạm Quốc Đô, Đào Tam Lang

96. Phạm Lỗ
Làng Dưỡng Mông, xã Ngũ Phúc, Kim Thành, Hải Dương

97. Phạm Quý
Xã Tiên Lãng, Tiên Lãng, Hải Phòng thờ: Phạm Quý, Đông Hải, Huy Thân công chúa, Ả Lãng Viên công chúa

98. Phạm công tử
Xã Cẩm Hoàn tổng Trà Phương, Kiến Thụy, Hải Phòng

99. Phạm Nhữ Lãm
Tiên công ở làng Hải Yến (trước là Hải Triền), huyện Yên Hưng, Quảng Ninh
do ông Phạm Nhữ Lãm chiêu tập dân nghèo đến khai phá.

100. Phạm Công
Xã Cự Lâm, Thư Trì, Thái Bình

101. Phạm Thành
Tử Nghi thượng đẳng thần
Thờ ở xã Diên Hà, tổng Bình Cách, Đông Quan, Thái Bình
Sử có người cùng tên Phạm Thành năm 1427 đi sứ

102. Phạm tiên sinh
Đường Cái Đông Hải đại vương
Thờ ở xã Mai Xá, huyện Nam Xương, Hà Nam

103. Phạm Công
Trung quân đô thống chế
Xã Lạc Nam, tổng Kiên Trung, Hải Hậu, Nam Định

104. Phạm Hiếu (?)
Già Xuân, già Hiếu, già Rằng họ Nguyễn, Phạm, Trần tìm ra đất Xuân Nha là tổ sư nghề, thần khai canh làng Xuân Nha xã Hưng Nhân, Hưng Nguyên, Nghệ An

105. Bản thổ Chiêu Như uy linh: họ Phạm đỗ Tiến sĩ
Xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An

106. Phạm Bá Quý
Tướng công
Thành hoàng
Đình Phù Trịch, thị trấn Ba Đồn, Quảng Trạch, Quảng Bình

107. Phạm Văn Quỳnh
Đình Khánh Diên, thị trấn Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh

108. Phạm Văn An
Thành hoàng
Đình Định Yên, huyện Lấp Lò, Đồng Tháp
Người đầu tiên khai hoang lập ấp ở Định Yên

Tháp Bút

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2009

Các vị linh thần họ Phạm thời Nguyễn

77. Phạm Văn Nhân (?-1815)
Thời: Gia Long
Miếu Trung Hưng công thần xã Hương Hồ, Hương Trà, Thừa Thiên-Huế

78. Phạm Văn Dinh
Thời:
Gia Long
Đình Thắng Tam, Tp Vũng Tàu

79. Phạm Văn Điển (?-1842)
Thời: Minh Mạng
Đình Phước Hội, xã Suối Đá, Dương Minh Châu, Tây Ninh

80. Phạm Đăng Hưng (1765-1825)
Đức Quốc công
Thờ ở Phú Xuân, Hương Trà, Thừa Thiên-Huế và quê Gia Định (gò Sơn Quy xã Long Hưng, thị xã Gò Công, Tiền Giang), phối thờ Quốc Thái phu nhân

81. Phạm Đình Trạc
Phạm Văn Lưu

Thời: Nguyễn
Đền Tam Trung, xã Gia Cung, Thạch An, Cao Bằng

82. Phạm Xuân Quế (?-1861)
Hình bộ Tả thị lang, tán tướng quân vụ Nam Kỳ
Thời: Tự Đức
Đình Lũ Phong xã Quảng Phong, Quảng Trạch, Quảng Bình

83. Phạm Văn Thanh
Quê xã Mạn Trung, Giao Thủy, Nam Định
Thời: Tự Đức
Đền Dưỡng Trực, Tiền Hải, Thái Bình
chánh tổng khai hoang lập xóm thời Nguyễn Công Trứ

84. Phạm Văn Nghị (1805-1881)
Đền Quỹ Nhất, xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Hưng, Nam Định
Thôn Tam Đăng, xã Yên Thắng, Ý Yên, Nam Định

85. Phạm Thận Duật (1825-1885)
Đại thần Viên cơ mật, hiệu Vọng Sơn, tự Quan Thành
Đền thờ, nhà bia ở thôn Yên Mô thượng, xã Yên Mạc, Yên Mô, Ninh Bình

86. Phạm Thị Tảo
bà Tú Lường
Thành hoàng làng
Tham gia Cần Vương
Đền ở thôn Đạo Lý, xã Lý Thành, Nghệ An

87. Phạm Văn Chí
cuối thế kỷ 19
Đình Bình Hòa, quận 6, Tp Hồ Chí Minh

88. Phạm Đình Toái (1818-1901)
Thành hoàng
Có công lập làng mới Tân Mỹ sau gọi là Đồng Xuân tổng Quỳnh Lâm huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An

89. Phạm Hồng Thái (1895-1924)Đình Mỹ Hòa, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh thờ người có công trong các phong trào yêu nước chống Pháp

Tháp Bút

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2009

Các vị linh thần họ Phạm thời Lê

43. Bảy vị thần họ Phạm
(có phải là 7 anh em Phạm Luận?)
Thời: Khởi nghĩa Lam Sơn
Làng Nghìn, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Thờ: Bát thị Tiên tổ (tám vị tổ của tám dòng họ có công lập làng) và bảy vị thần họ Phạm có công giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh

44. Phạm Luận (?-1421)
bảy anh em họ Phạm (Phạm Luận, Phạm Thọ, Phạm Thành, Phạm Tường, Phạm Tụng, Phạm Kế và Phạm Thị Phương)
Thời: Khởi nghĩa Lam Sơn
An Thủy xã Hiến Thành, Kinh Môn, Hải Dương thờ: Phạm Luận, Phạm Tụng
Đền Ngư Uyên (đền Cả), xã Long Xuyên huyện Kinh Môn, Hải Dương và thôn Vụ Nông xã Đại Bản, huyện An Hải, Hải Phòng thờ 7 anh em Phạm Luận
có công chống giặc Minh.

45. Phạm Thị Ngọc Trần (1386-1425)
Cung Từ hoàng hậu
Thời: Khởi nghĩa Lam Sơn
thờ ở xã Thịnh Mỹ, Lôi Dương, Thanh Hóa
Đền Hiến Nhân huyện Thọ Xuân
Đền Cung Từ Hoàng hậu xã Thọ Diên

46. Phạm Bôi
Thời: Lê Thái Tổ
Đình Đông Linh, xã An Bài, Quỳnh Phụ, Thái Bình

47. Phạm Đình Liêu
quê gốc Nguyên Xá, Lam Sơn
Sử có ghi là Phạm Văn Liêu
Thời: Lê Thái Tổ
Đình Dục Nội, xã Việt Hùng, Đông Anh, Hà Nội: Đông Lang, Thiên Cương, Phúc Liêu (?): có công trong khởi nghĩa Lam Sơn, giết Liễu Thăng ở ải Chi Lăng
thờ ở thôn Chùa, xã Xuân Hương, Lạng Giang, Bắc Giang

48. Phạm Đức Hóa
Hoa Phong hầu, phò mã
Con vị tướng quê Thanh Hóa tham gia khởi nghĩa Lam Sơn
Thời: Lê Thái Tổ
Thành hoàng làng Mãn Triều xã Xuân Hương, Lạng Giang, Bắc Giang
Họ Phạm xóm Chùa
(Phạm Đức Hóa và Phạm Đình Liêu là một?)

49. Phạm Việt
Lập nên Làng Cẩm La, Yên Hưng, Quảng Ninh
Thời: Lê Thái Tổ năm Thiệu Bình thứ nhất (1434)
gốc làng Đồng Lầm, phường Kim Hoa, kinh thành Thăng Long (nay là phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội)
cùng 2 vị anh em họ Dương lập làng Cẩm La

50. Phạm Niên
Phạm Đới

Học trò Thám hoa Lương Nhữ Lộc – ông Tổ nghề khắc ván in
Đình Sinh thôn Hồng Lục, xã Tân Hưng, Tứ Kỳ, Hải Dương
Chùa ở Liễu Tràng

51. Phạm Thị Ngọc ĐôQuê miền Nam
Bà Tổ nghề dệt lĩnh
Thời: Nhà Lê
Đền Thiên Nam, Trích Sài, Hà Nội
Miếu bà chúa Lĩnh


52. Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Phạm Thị Nga (1434-?) nên gọi là tiên Nga
(Mẫu Liễu đầu thai 3 lần trong các gia đình: Lần 1: họ Phạm; Lần 2: họ Lê sinh năm 1557; Lần 3: họ Mai sinh năm 1650
Thời: Lê sơ
Phủ Dày ở xã Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định
Phủ Quảng Cung ở xã Yên Đông, Ý Yên, Nam Định
Phủ Sòng Sơn ở Hà Trung, Thanh Hoá
Phủ Tây Hồ, Hà Nội
Đình Cổ Lương (28 Nguyễn Siêu, Hà Nội)
An Thái, Vụ Bản, Nam Định
Đông Dư, Gia Lâm, Hà Nội
Làng Chính Lữ, huyện Cao Lộc, Lạng Sơn
Làng Khương Dụ, huyện Yên Mô, Ninh Bình

53. Phạm Nhữ Tăng (1422-1478)
Thời: Lê Thánh Tông
Vua Lê phong thượng đẳng phúc thần ở châu Thang Hoa
Hoàng giáp Phạm Khắc Thận (1441-?)
Thành hoàng
Thôn Cổ Trung, xã Nam Hùng, Nam Ninh, Nam Định (quê mẹ)

54. Phạm Đôn Lễ (1455-?)
Tổ nghề chiếu
Đền Phạm Trạng Nguyên, làng Hới, xã Tân Lễ, nay là xã Hải Triều, Hưng Hà, Thái Bình

55. Phạm Nguyễn Bảo
Phạm Đạo Bảo (1456-1497)?
Hưng Thịnh, Nghĩa Hưng, Nam Định
hộ giá Lê Hiến Tông đánh Bồn Man giữa đường mắc bệnh mất.

56. Phạm Kim Cập
500 năm
Quần Anh: Xã Hải Trung, Hải Hậu, Nam Định

57. Phạm Đạo Phú (1463-1530)
Xã Hưng Thịnh, Nghĩa Hưng, Nam Định
làng Phạm Xá, xã Yên Nhân, Ý Yên, Nam Định

58. Phạm Khánh
con ông Phạm Chân
Đổng công sơn linh tôn thần
Thời: Lê Trang Tông
Đền ở Cao Xá nay là xã Diễn Thịnh và Diễn Thành huyện Diễn Châu, Nghệ An

59. Phạm Tử Nghi (1509-1551)
Xã Vĩnh Niệm, An Dương, Hải Phòng (quê)
đình Vĩnh Khê, xã An Đồng, An Dương, Hải Phòng
Đình Cổ Lương (28 Nguyễn Siêu, Hà Nội) công chúa Liễu Hạnh, phối thờ Phạm Tử Nghi, Trần Lĩnh Thông
Làng Hải Yến, xã Yên Hải, Yên Hưng, Quảng Ninh

60. Phạm Công Nghi
Quê Vĩnh Niệm, huyện Nghi Dương
Linh Ứng đại vương
(cũng là Phạm Tử Nghi?)
Miếu Trung làng Quan Xuyên xã Thành Công, Khoái Châu, Hưng Yên

61. Phạm Thị Thuận
vợ Kim Sơn hầu Lê Đình Xứng
Thời: Nhà Lê
Xã Tiên Cầu, Kim Thi, Hưng Yên nay là xã Hiệp Cường, Kim Động

62. Phạm Đức Chính,
Phạm Sỹ Bân,
Phạm Sỹ Thuần

Ông tổ nghề giày dép (Ngô Thời Trung đi sứ nhà Minh)
Thời: Nhà Lê
Đền thờ 16 ngõ Hài Tượng và 40 phố Hàng Hành,
Làng Tam Lâm, xã Hoàng Diệu, Gia Lộc, Hải Dương; người làng lập ra phố Hàng Da
Có sách ghi là 3 ông: Phạm Thuần Chánh, Phạm Đức Chính, Nguyễn Sỹ Bân

63. Phạm Duy Quyết (1521-?)
Phạm tướng công
Thờ ở Hùng Khê, Tứ Lộc, Hải Dương
Đền Phạm Tướng công ở làng Kim Khê, xã Cộng Hòa, Chí Linh, Hải Dương

64. Phạm Thọ Khảo (1543-?)
Thời: Lê Anh Tông
Thờ ở La Xá, tổng Ngọc Lâm, Tứ Kỳ, Hải Dương

65. Phạm Công Sám (Phạm Tiêm)
Phạm Trấn Tướng, Đại tư mã
Đền xã Phú Lễ, Kỳ Anh, Hà Tĩnh (nay là thị trấn Kỳ Anh)
Có cháu 4 đời là Phạm Hoành-Hổ Oai tướng quân thờ ở đền Chào, Kỳ Anh, Hà Tĩnh

66. Phạm tướng công linh thần
Thờ ở thôn Cổ Bái xã Phúc Thọ, Nghi Lộc, Nghệ An
quê Hải Dương đỗ tiến sĩ, đi sứ phương Bắc, về trí sĩ lập ấp ở Cổ Bái.
Thần này có thể tên là Phạm Huy: Sứ giả Phạm Huy

67. Phạm Đà
Thế kỷ 17
Làng nghề mộc Trường Xuân, xã Trường Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh

68. Phạm An Khê
Phạm Viết Kính

2 bố con là thành hoàng làng
Thời: Nhà Mạc
Xã Dũng Tiến, Vĩnh Bảo, Hải Phòng
có Phạm Viết Kính quê Tứ Kỳ, Hải Dương vào năm 1588 là Đông Quận công

69. Phạm Công Trứ (1600-1675)
Thời: Lê Trung Hưng
Xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên

70. Phạm Viên
Con Phạm Chất (1623-?)
Thế kỷ 17
Xã Diễn Hùng, Diễn Châu, Nghệ An
Thần đạo giáo nổi tiếng

71. Phạm Quang Dung (1675-?)
Đình Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội

72. Phạm Công Lai
300 năm
Làng Nguyệt Biều, xã Thủy Bằng, Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế
3. 7Phạm Đình Trọng (1714-1754)
Xã Phúc Thọ, Nghi Lộc, Nghệ An: Đại minh Tứ Dương Thành – họ Phạm quê Hải Dương giữ chức Khâm sai đô thống tiết chế cả quân thủy bộ (Có thể là Phạm Đình Trọng?)
Đình Khinh Dao, Chí Linh, Hải Dương
Xã An Hưng, An Dương, Hải Phòng

74. Phạm Siêu
Phạm Huy Đĩnh?
Cao Môi đại vương
nội giám ở phủ chúa Trịnh Sâm
Thời: Chúa Trịnh
Xã Cao Môi, Tiên Hưng, Thái Bình

75. Phạm Nguyễn Du (1740-?)
Đền ở Nghi Thạch, Nghi Lộc, Nghệ An

76. Phạm thị hiệu Gia Phi
Thời: Chúa Nguyễn
Đền Gia Phi ở Tp Huế

Tháp Bút

Các vị linh thần họ Phạm thời Trần

35. Phạm Ngũ Lão (1255-1320)
và vợ là Anh Nguyên quận chúa (1254-1329)
Thời: nhà Trần
Đền Ủng, xã Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên Kim Sơn, xã Tân Trào, Kiến Thụy, Hải Phòng;
Làng Hét, xã Thái Thượng, Thái Thụy, Thái Bình
Đền Trung Cốc xã Nam Hòa, Yên Hưng, Quảng Ninh
Đền Thụ Khê, xã Liên Khê, Thủy Nguyên, Hải Phòng
25 Lý Quốc Sư, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
269 Hàng Giấy (cũ) nay là phố Hoàng Văn Thụ, Tp Nam Định
Đình thôn Châu, thị trấn Kiện Khê, Thanh Liêm, Hà Nam (thờ Thủy Tinh công chúa)
Các đền thờ Đức Thánh Trần: đền Vạn Kiếp, Phủ Dày,
Ở Hà Nội: đền Hải Sơn bên bến tàu du lịch sông Hồng, đền Nghiễm Phúc ở Cầu Giấy, đền Ngọc Sơn, đền Lừ, đền Phúc Nam ở Lê Duẩn…

36. Phạm Sỹ
Dực Hồ hầu đại tướng quân
Dực Chính Tương Bình đại vương
Thời: Trần Thái Tông
Đình Châu Khê xã Thúc Kháng, Cẩm Bình, Hải Dương
Xã Hoàng Xá, Đông Yên, Khoái Châu, Hưng Yên: bốn vị đại vương tên Sỹ (Phạm Sỹ?), Chính, An, Huệ. Giúp vua Trần chống Nguyên, dẹp loạn ở các địa phương.

37. Phạm Ngộ
Thời: Nhà Trần
Xuân Nộn, Đông Anh
Đình Cả, thôn Đệ Nhất, xã Mỹ Trung, Mỹ Lộc, Nam Định

38. Yết Kiêu (Phạm Hữu Thế)
Thời: Nhà Trần
Đền Quát xã Yết Kiêu, Gia Lộc, Hải Dương.
Xã Kênh Giang, Chí Linh, Hải Dương
Đình Khuông Phụ, Tứ Lộc, Hải Dương
Xuân Nộn, Đông Anh, Hà Nội
Phúc Thọ, Nghi Lộc, Nghệ An

39. Phạm Đình Minh
1 trong 5 ông tổ nghề rèn
Thời: Nhà Trần
Làng Cau Đương huyện Thái Thụy, Thái Bình
Rèn vũ khí chống Nguyên

40. Phạm Công Chính(?-1288)
Hy sinh trong trận Vân Đồn
Thời: Nhà Trần
Miếu Đức Ông, đảo Quan Lạn, huyện đảo Vân Đồn, Quảng Ninh

41. Phạm Trí
Thời: Nhà Trần
Đình Ngọc Cục xã Thúc Kháng, Bình Giang, Hải Dương

42. Phạm Viết Trinh
Người Cẩm Giàng
Thời: Trần Duệ Tông
Khai lập làng Xưa (An Cư) xã An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng

Tháp Bút

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2009

Các vị linh thần họ Phạm thời Lý

23. Phạm Minh
Thời: Tiền Lê-Nhà Lý
Xạ Sơn (Đình Cả) xã Quang Trung, Kinh Môn, Hải Dương
Không rõ các nơi thờ Phạm Minh có phải cùng thờ một người hay không?
5 vị Thành hoàng: Đô Lỗ, thời Tiền Lê và Đào Thành, Phạm Minh (?), Nguyễn Thiết, Vũ Oai, thời Lý có công đánh giặc Ai Lao
Đình Cung Nhượng, Lạng Giang, Bắc Giang thờ Đô Thống đại tướng quân-Phạm Minh (?) giúp vua đánh Chiêm Thành bị ám sát.
Xã La Xá, Tứ Kỳ, Hải Dương thờ Ngô linh ứng đại vương - Phạm Minh (?)

24. Phạm Minh
Phạm Quản

Thời: Nhà Lý
Đình Lạt Dương xã Hồng Thái, Phú Xuyên, Hà Nội
Tướng đánh giặc ở Tuyên Thái rồi hóa

25. Phạm Ban
Thành hoàng đình Cả
Thời: Nhà Lý
(hội Lim) xã Nội Duệ, Tiên Du, Bắc Ninh
1044 đánh thắng Chiêm Thành

26. Phạm Trọng Y (1052-1077) còn có tên là Quách Y
Độc Lôi thần
Minh Uy Lôi Trấn đại vương
Thời: Nhà Lý
Núi Lôi Sơn, Hữu Biệt, Nam Đàn, Nghệ An tướng quân họ Phạm đem quân đi đánh giặc, bỗng tiếng sấm nổ vang, tướng quân bay lên trời biến mất.

27. Phạm A Lậu
Minh Tâm đại tướng
(Phạm Dật-1 trong 18 danh tướng chống Tống?)
Thời: Lý Nhân Tông
Đình Vo thôn Vô Lượng, xã Thống Nhất, Gia Lộc, Hải Dương

28. Phạm Ngọc
Phạm Hồng
Phạm Thiệu

Thời: Lý Thái Tông
Đền thờ ở Phượng Trì, Gia Lương, Bắc Ninh (có thờ Phạm Sùng)

29. Phạm Công Bình
Thời: Nhà Lý
Thôn Yên Lạc, xã Đồng Văn, h.Yên Lạc, Vĩnh Phúc
Xã Phú Tài, Vĩnh Lại, Hải Phòng

30. Phạm Quốc Tài
Thời: Nhà Lý
Quê làng Đê Cầu, Thuận Thành, Bắc Ninh Đồ đệ của sư Dương Không Lộ chùa Phả Lại – ông Tổ nghề đúc đồng. Được phối thờ cùng sư thầy ở nhiều nơi.
Dân quê ông được vua cho về Kinh lập nên 5 xã đúc đồng là Ngũ Xã, Hà Nội

31. Phạm Hiên
Trạng nguyên (?)
Thời: Nhà Lý
Đàn Vạn Niên (Đàn Thiện) thôn Phù Tải, xã Thanh Giang, Thanh Miện, Hải Dương

32. Phạm Tử Hư (1165-1253)
Nghĩa Xá, quận Lê Chân, Hải Phòng

33. Phạm Sùng (1167-1230) còn gọi là Phạm Cư Sỹ
Thời: Nhà Lý
Xã Ba Dư, Thanh Oai, Hà Tây thờ: Cư Sỹ (?), Tri Pháp, Đống Tẩy
Đình thôn Nhất xã Tiên Nội, Duy Tiên, Hà Nam
Có 72 nơi thờ Phạm Sùng từ Nghệ An trở ra
Có phải những nơi này thờ Phạm Cư Sỹ-Phạm Sùng?
Xã Cao Xá, Thanh Oai: Dực Bảo, Diễm Phương Quế Anh công chúa, A Lý Trình, Cư Sỹ (?)
Xã Cố Bản, Vụ Bản, Nam Định: Cư Sỹ (?), Gia Lợi công chúa, Ngọ Lang
Xã Hoàng Đạo huyện Duy Tiên, Hà Nam thờ 5 vị đại vương và 2 vị công chúa: Lôi Công, Cư Sỹ (?), Trần Quốc, Đông An, Thiên Bồng; Bạch Mai và Thủy Tinh công chúa
Xã Cốc Khê, Kim Động, Hưng Yên: Phạm Cư Sỹ (?)

34. Phạm Bình
Thành hoàng Cao Xá
con ông Phạm Lương và bà Trần Thị Bích
Thế kỷ 13
Cao Xá nay là xã Diễn Thịnh và Diễn Thành huyện Diễn Châu, Nghệ An


Tháp Bút

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2009

Các vị linh thần họ Phạm thời Tiền Lý đến thời Tiền Lê

Nhân dịp Ban liên lạc họ Phạm VN tổ chức hội nghị thường niên vào ngày 12.7.2009 tại Thủ đô Hà Nội, chúng tôi xin đăng tải tiếp thông tin về các vị LINH THẦN HỌ PHẠM. Danh sách lần này đứng đầu là Danh tướng Phạm Tu, Đại thành hoàng của Thăng Long-Hà Nội. Vị thần Đô trưởng trấn giữ Đô thành nước Việt.

8. Phạm Tu (476-545)
Đô Hồ Đại vương, Long Biên hầu, Tả tướng, Trưởng Ban Võ nhà nước Vạn Xuân.
Đại thành hoàng Thăng Long-Hà Nội
Thời: Lý Nam Đế
Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội
Miếu Vực, thôn Vực xã Thanh Liệt có thờ cả song thân Ngài là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch
Có 3 nơi khác thờ Đô Hồ đại vương nhưng hiện chưa xác định được có phải nơi thờ là Đô Hồ đại vương Phạm Tu
Xã Linh Khê, Nam Sách, Hải Dương thờ 3 vị đại vương: Uy Minh, Quy Chân, Đô Hồ đại vương (?)
Xã Hương Vân, tổng Nội Viên, huyện Tiên Du, Bắc Ninh: Đô Hồ đại vương (?), Hải Tịnh phu nhân công chúa
Xã Nhân Hào Thượng, tổng Sài Trang, Yên Mỹ, Hưng Yên thờ Đô Hồ tế thế đại vương (?)

9. Phạm Khang (510-547) Tiền tướng quân
Phạm Nguyên (510-547) Trung quân Đô úy
Thời: Lý Nam Đế
Đền Mỹ Thành, Mỹ Lộc, Nam Định

10. Phạm Thị Toàn
Nữ tướng của Lý Bí
Con ông Phạm Lương
Thời: Lý Nam Đế
Xã An Ninh nay là An Bình, Nam Thanh, Hải Dương thờ 2 vị thành hoàng: Phạm Thị Toàn và Nguyễn Hữu Tinh (thời Trần)
Bà là người sáng lập chùa Trăm Gian xã An Bình

11. Phạm Công
Thời: Lý Nam Đế
Đình Đào Lâm, xã Đoàn Tùng, Thanh Miện, Hải Dương

12. Phạm Thị Uyển Hoàng hậu của Mai Hắc Đế (?-722)
Phạm Huy (?-766)
Phạm Miễn (?-766)
Quê Đường Lâm
Thời: Mai Hắc Đế
Đình Hòa Mục, số 139 Nguyễn Ngọc Vũ, Hà Nội, bên sông Tô Lịch
Ba chị em ruột Phạm Thị Uyển, Phạm Huy, Phạm Miễn-mẹ là người thân của Phùng Hưng
Lễ hóa Phạm Hoàng hậu ngày 15.7 âm tại khu di tích vua Mai ở Nam Đàn, Nghệ An
Ghi chú: còn nghi vấn về năm mất của Phạm Thị Uyển khoảng năm 722 và có tài liệu cho là họ gọi Phùng Hưng là cậu ruột

13. Phạm Chiêm
Phạm Lệnh Công
Thành hoàng làng Thụy Trà
Thời: Ngô Quyền
Làng Thụy Trà, xã Nam Trung, Nam Sách, Hải Dương
Di tích làng Trà Hương, xã Phạm Mệnh, Kinh Môn, Hải Dương
Có người cho là Phạm Chiêm có 5 trai 3 gái đều thành đạt

14. Phạm Hòa
Thành hoàng làng Thụy Trà
Làng Thụy Trà, xã Nam Trung, Nam Sách, Hải Dương

15. Phạm Bạch Hổ (910-972)
Đức Thánh Mây: Vua Mây (Đàng Vương)
Thành hoàng Đền Đằng Châu
Thời: Đinh Tiên Hoàng
Đền Mây (đền Đằng Châu) phường Lam Sơn, Tp Hưng Yên
Đình làng Phương Mạc, xã Phương Đình, Đan Phượng. Có miếu thờ mẹ ông
Vua Lê Đại Hành phong mỹ tự: “Bản cảnh thành hoàng Phạm Lệnh Công hiển ứng đại vương” ở đình này.

Từ đây cần tìm hiểu quan hệ giữa Phạm Chiêm và Phạm Bạch Hổ đều là Phạm Lệnh Công chăng? Có thể hiểu Lệnh Công như là cách gọi của các vị tướng nắm quyền Tư Lệnh được chăng?
Theo “Đại Nam nhất thống chí”, Phạm Bạch Hổ sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (910), thân phụ là Phạm Lệnh Công người lộ Nam Sách Giang (nay là Kim Thành- Hải Dương).

16. Đức Thánh Dộc Đông Nga đại tướng quân- họ Phạm
Thời: Đinh Tiên Hoàng
Đền ở xã Minh Khai, Hoài Đức (ven sông Đáy)
Ông theo Đinh Bộ Lĩnh, là tướng tài được phong Tổng đốc đại vương có công dựng làng Mậu Hòa.

17. Huyền Thông đại vương- họ Phạm
Thời: Đinh Tiên Hoàng
Xã Hồ Liễu, Cẩm Bình, Hải Dương
giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp các sứ quân, giúp dân mở mang nghề nông

18. Phạm Quảng
Thời: Đinh Tiên Hoàng
Miếu Phương Mỹ xã Mỹ Đồng, Thủy Nguyên, Hải Phòng
Phối thờ Quý Minh đại vương (thời Hùng Duệ vương), Phạm Tử Nghi (nhà Mạc)

19. Phạm Thị Trân
Bà Tổ nghề chèo tuồng
Thời: Đinh Tiên Hoàng

20. Phạm Quang Đại tướng quân
Phạm Nghiêm Trung hoa Tể tướng
Phạm Huấn Sơn Nam Thái thú
Phạm Cúc Nương Mẫu Nghi thiên hạ - (Phạm Hoàng hậu của Lê Đại Hành?)
Thời: Tiền Lê
Thủy Tú xã Thủy Đường, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng (thờ 3 vị đại vương: Đô Thống, Vũ Lôi, Phù Quốc)
Đền ở xã Hòa Bình, Thủy Nguyên, Hải Phòng
Có công chống Tống
4 con của ông Phạm Hoằng và bà Nguyễn Thị Bích
Trang Ngọc Phương (Thủy Tú) thờ Phạm Quang; trang Chiếm Phương thờ Phạm Nguyên; trang Trường Sơn thờ Phạm Huấn và Cúc Nương.


21. Phạm Cự Lượng (944-984)
Còn gọi là Phạm Cự Lạng
Hồng Thánh đại vương
Hoằng Thánh đại vương
Thời: Đinh- Lê
Đền Lương Sử, Quốc Tử Giám, Hà Nội
Đình Hương Lộc xã Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nam Định
Thành hoàng 7 làng huyện Nghĩa Hưng
Đình Đoài, thuộc xóm Ngói, Hà Châu (Phú Bình); đình Hoàng Đàm, xóm Hoàng Đàm, Nam Tiến và đình Thượng Giã, Thuận Thành (Phổ Yên).
Đồng Cổ (tức xã Đan Nê, Yên Định, Thanh Hóa)
Đa Cái ở Hoan Châu (tức xã Hương Cái, Hưng Nguyên, Nghệ An ngày nay-tây nam huyện Hưng Nguyên) – Đây chính là vùng thị trấn Hưng Nguyên, quê của Quang Trung Nguyễn Huệ và giả vương Phạm Công Trị.
Thành hoàng làng Đặng Xá, huyện Hưng Hà, Thái Bình (quê Phạm Kính Ân – là đời 10 của Phạm Cự Lượng?)
Còn một số khác có thể là nơi ông chăng:
Xã Hương Mãn, Hiệp Hòa, Bắc Ninh thờ 4 vị đại vương: Đương Giang, Hồng Thánh (?), Huyền Thiên, Linh Quang
Xã Hoàng Tranh, Phù Cừ, Hưng Yên: thờ 2 vị đại vương Tỵ Tam và Hoàng Thánh (?)

22. Phạm Thị Ngà (958-?) Mẹ Lý Công Uẩn
Lý Thánh mẫu Minh Đức Hoàng Thái Hậu,
Lý triều Quốc mẫu,
Thời: Tiền Lê
Đình Dương Lôi (đình Sấm) Đền Lý triều Thánh Mẫu ở Dương Lôi, Bắc Ninh
có phủ thờ ở Chùa Cổ Pháp còn gọi là chùa Ứng Thiên hay chùa Dặn ở xã Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh
Chùa Cha Lư
Chùa Tiêu

Tháp Bút

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2009

Các linh thần họ Phạm trước thời Tiền Lý

1. Phạm Chí
Phạm Khí
Phạm Minh

Thời: Hùng vương thứ 6
Đình Cao Xá xã Thái Hòa, Bình Giang, Hải Dương. Các vị có công đánh giặc Ân

2. Phạm Hải
Nam Hải Đại vương-Thuỷ thần
người Việt Thường (Quảng Bình)
Thời: Hùng vương thứ 18
Đền An Cố, Thái Thuỵ, Thái Bình;
Đình Tú Sơn, Kiến Thụy, Hải Phòng.
Thần tích chùa Khánh Long, thôn Tiểu Trà, Xã Hưng Đạo, Kiến Thụy, Hải Phòng có ghi sự nghiệp

3. Phạm Vĩnh
Trấn An Tây Nam Tam kỳ-Thuỷ thần
Thời: Hùng vương thứ 18
Đền Lảnh Giang, Duy Tiên, Hà Nam.

4. Phạm Quang
Phạm Thiện

(con ông Phạm Hồng)
Thời: Hùng vương thứ 18
Xã Thanh Sầm, Kim Động Hưng Yên
Hai vị đại vương: Hướng Thiện Ninh Quốc và Đạo Quang Vĩnh An giúp vua Hùng đánh Thục.

5. Phạm Gia
Võ tướng
Thời: An Dương vương
Di tích Yên Nghĩa, Hoài Đức;
Đền An Lư, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng

6. Hoàng Trị đại vương
con ông Phạm Cao
Thời: An Dương vương
Đình Thanh Thần xã Thanh Cao, Thanh Oai, Hà Nội

7. Phạm Thị Côn
Vương Thục Côn công chúa, Côn Nữu công chúa (?)
Con ông Phạm Văn Khang
Thời: Trưng vương
Đình Tức Mặc, phường Lộc Vượng, Tp Nam Định (quê vua Trần, có đền Trần rất nổi tiếng)

Tháp Bút